Đức Phật ngồi thiền dưới cội Bồ-đề
NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSAKính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
Thừa Tự Pháp
VINAYAHọc Giới Luật Tỳ-khưu · Nam tông
NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSAKính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
Đức Phật ngồi thiền dưới cội Bồ-đề

Hãy nhìn Đức Thế Tôn, giữ tâm có niệm, hít thở thật sâu trước khi học bài hôm nay.

BÀI 2

Bốn điều Bất cộng trú (Pārājika)

Bốn trọng giới mở đầu Giới bổn. Phạm một trong bốn điều này, vị Tỳ-khưu bị “đánh bại”, không còn là Tỳ-khưu và không được sống chung với Tăng. Bài học đi qua từng điều theo Tạng Luật: duyên sự chế định, phân tích từ ngữ, những vụ việc Đức Phật đã phán; rồi bình giải về chi phần, trường hợp không phạm và tội nhẹ hơn.

⏱ khoảng 60 phút🧭 8 phần📜 nguyên văn Tạng Luật🔎 34 chuyện dẫn giải⚖️ 10 tình huống phán xét
🎯 Học xong bài này, bạn sẽ:
  • Hiểu nghĩa “pārājika” và “không được cộng trú”.
  • Đọc nguyên văn, duyên sự và phần phân tích từ ngữ của bốn điều học trong Tạng Luật.
  • Biết Đức Phật đã phán những vụ việc có thật ra sao (chuyện dẫn giải).
  • Nắm các chi phần phải hội đủ mới thành tội bất cộng trú (bình giải theo BMC).
  • Phân biệt trường hợp không phạm và tội nhẹ hơn (thullaccaya, dukkaṭa).
Ngày Uposatha, chư Tăng tụng Giới bổn Pātimokkha
🗺️
TOÀN CẢNH

Sơ đồ tóm tắt bài học

Bốn điều học, mỗi điều có duyên sự, chi phần và trường hợp không phạm. Bấm vào một ô để đi tới phần đó.

⚔️Pārājika là gì?
  • Bị “đánh bại” bởi phiền não
  • Như người bị chặt đầu, lá vàng lìa cành, đá vỡ đôi, cây thốt nốt bị chặt ngọn
  • Asaṃvāsa: không được cộng trú
🚫Điều 1 · Hành dâm
  • Duyên sự: Sudinna → con khỉ → các vị Vajjī
  • Không biết, không ưng thuận thì vô tội
  • Muốn về đời: phải xả giới trước
🪵Điều 2 · Trộm cắp
  • Duyên sự: Dhaniya lấy gỗ của vua
  • Sờ: dukkaṭa · lay động: thullaccaya · dời chỗ: pārājika
  • Giá trị từ 1 pāda (5 māsaka) trở lên
🗡️Điều 3 · Giết người
  • Duyên sự: sau pháp quán bất tịnh ở Đại Lâm
  • Vì thương mà khen sự chết: vẫn pārājika
  • Kể cả thai nhi; ca ngợi, xúi giục sự chết
🗣️Điều 4 · Khoe pháp thượng nhân
  • Duyên sự: nạn đói, sông Vaggumudā
  • Năm kẻ cướp lớn: đứng đầu là kẻ khoe pháp không có
  • Trừ khi do tăng thượng mạn
🛟Không phạm · tội nhẹ hơn
  • Điên, tâm rối loạn, bị khổ thọ hành hạ, vị phạm đầu tiên
  • Thiếu chi phần: thullaccaya hoặc dukkaṭa
⚖️Hậu quả · cách xử lý
  • Mất tư cách Tỳ-khưu ngay khi phạm
  • Không thể thọ Cụ túc lại trong đời này
  • Nghi ngờ thì trình bậc thông Luật
🌬️Giữ mình
  • Định niệm hơi thở (SN 54.9)
  • Học kỹ bốn điều ngay sau khi thọ giới
  • Ít muốn, biết đủ, thu thúc lục căn
BỐN ĐIỀU
BẤT CỘNG TRÚ
Pārājika · asaṃvāsa
⚔️
PHẦN 1

Pārājika là gì?

Theo Tập yếu (Parivāra), chữ pārājika đến từ động từ có nghĩa là thua, bị đánh bại. Vị Tỳ-khưu phạm một trong bốn điều này đã đầu hàng phiền não đến mức làm hỏng chính mục đích mình xuất gia.

Trong phần phân tích từ ngữ, Tạng Luật dùng bốn hình ảnh để nói rằng sự thất bại này không thể vãn hồi:

✂️Điều 1

“…cũng giống như người đàn ông bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy…”

🍂Điều 2

“…cũng giống như chiếc lá vàng đã lìa khỏi cành không thể xanh trở lại…”

🪨Điều 3

“…cũng giống như tảng đá lớn bị bể làm hai không thể gắn liền lại được…”

🌴Điều 4

“…cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ở ngọn không thể tăng trưởng được nữa…”

Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Tỳ-khưu Indacanda dịch

⛔
Pārājikabị đánh bại

Vị ấy “không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử”. Không cần làm nghi thức xả giới: chính hành vi phạm tội đã làm mất tư cách Tỳ-khưu.

🚪
Không được cộng trúasaṃvāsa

“Cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau… Vị ấy không có được điều ấy.” (Indacanda dịch)

📌

Bốn điều học này được tụng đầu tiên trong Giới bổn: “Tatrime cattāro pārājikā dhammā uddesaṃ āgacchanti” — Ở đây, bốn pháp pārājika này được đem ra tụng.

🔤Chữ “pārājika” nghĩa là gì?“Bị đánh bại” hay “bị truất”? Truyền thống chú giải và các nhà nghiên cứu

• Tập yếu (Parivāra) dùng bốn chữ để giải thích: cuto (đã rơi rụng), paraddho (đã thất bại), bhaṭṭho (đã rớt ra), niraṅkato (đã bị loại ra khỏi Chánh pháp) — vì vậy “không được cộng trú”.

• Chú giải (Samantapāsādikā): điều học ấy “đánh bại” (parājeti) người vi phạm; vị ấy là người đã bị đánh bại, rớt ra khỏi Giáo pháp, “không phải Sa-môn, không phải Thích tử”.

• Bhikkhu Ñāṇatusita, dựa trên nghiên cứu của Ann Heirman so sánh các bộ Luật, cho rằng nghĩa sát nhất là “bị truất, bị loại ra” (disqualified, excluded): chữ này đi với asaṃvāsa (không được cộng trú), asamaṇa (không phải Sa-môn), và động từ nāseti (trục xuất) mà Tạng Luật dùng cho việc Tăng phải làm với vị phạm.

Theo The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (Ñāṇatusita, BPS 2014), Dẫn nhập mục 17

Cách học mỗi điều trong bài này

① Nguyên vănPāli và bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda
→
② Duyên sựTrích Tạng Luật: sự việc khiến Đức Phật chế điều học
→
③ Phân tích từ ngữTạng Luật giải thích từng chữ của điều học
→
④ Chuyện dẫn giảiNhững vụ việc có thật và lời Đức Phật phán
→
⑤ Bình giảiChi phần, tội nhẹ hơn, áp dụng ngày nay (BMC)
→
⑥ Không phạmNhững trường hợp được miễn

Phần chính trích nguyên văn Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda (nhãn Tạng Luật), đối chiếu bản Pāli Mahāsaṅgīti (SuttaCentral). Phần bình giải theo The Buddhist Monastic Code I của Ṭhānissaro Bhikkhu, chương 4 (nhãn Bình giải · BMC). Giải nghĩa từng chữ Pāli theo Bhikkhu Ñāṇatusita.

🚫
PHẦN 2 · PĀRĀJIKA 1

Điều 1 · Hành dâm Methunadhamma

Yo pana bhikkhu bhikkhūnaṃ sikkhāsājīvasamāpanno sikkhaṃ appaccakkhāya dubbalyaṃ anāvikatvā methunaṃ dhammaṃ paṭiseveyya, antamaso tiracchānagatāyapi, pārājiko hoti asaṃvāso.
“Vị tỳ khưu nào thọ trì sự học tập và lối sống của các tỳ khưu, khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược, mà thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Indacanda dịch · quy định lần thứ ba (bản cuối cùng)
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
yo pana bhikkhuvị tỳ khưu nàoyo: đại từ quan hệ, chủ cách số ít; pana: tiểu từ nối, không cần dịch
bhikkhūnaṃcủa (dành cho) các tỳ khưudữ cách hoặc sở hữu cách số nhiều
sikkhāsājīvasamāpannođã thọ nhận sự học tập và nếp sống (của các tỳ khưu)hợp từ: sikkhā (sự học tập) + sājīva (nếp sống) + samāpanna (đã đi vào, quá khứ phân từ của samāpajjati)
sikkhaṃ appaccakkhāyachưa từ bỏ sự học tập (chưa xả giới)appaccakkhāya: chưa khước từ, chưa xả bỏ
dubbalyaṃ anāvikatvāchưa bày tỏ sự yếu kém, sự bất lực (của mình)dubbalya = du (khó, kém) + bala (sức) + -ya; an + āvikatvā: chưa bày tỏ
methunaṃ dhammaṃ paṭiseveyyahành pháp đôi lứapaṭiseveyya: khả năng cách, ngôi 3 số ít của paṭisevati
antamaso tiracchānagatāya picho dù chỉ với một con thú cáitiracchāna: “đi ngang” — chỉ loài thú vì thân nằm ngang mặt đất; công cụ cách, giống cái
pārājiko hotilà vị bị truất (bị đánh bại)tính từ chỉ vị tỳ khưu; xem nghĩa chữ pārājika ở Phần 1
asaṃvāsokhông được cộng trúa (không) + saṃvāsa, từ saṃvasati: sống chung

Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.

Duyên sự — ba lần chế định Tạng Luật

Sudinna, con trai ông Kalanda

Người con một của một gia đình giàu có ở làng Kalanda gần Vesālī. Cha mẹ không cho xuất gia, Sudinna nằm xuống đất nhịn ăn suốt bảy bữa cho đến khi được phép. Về sau gặp lúc xứ Vajjī mất mùa, vị ấy về Vesālī nương nhờ thân quyến. Người mẹ nài nỉ:

“Này Sudinna thương, … con hãy để lại chủng tử. Chớ để các Licchavi đoạt lấy tài sản không người thừa tự của chúng ta.”

Vị ấy nghe theo, làm việc ấy với người vợ cũ ở Đại Lâm (Mahāvana), rồi ăn năn đến gầy mòn. Các bạn đồng tu hỏi ra, khiển trách và trình lên Đức Phật. Điều học được chế lần thứ nhất.

Chuyện con khỉ cái

Một vị ở Đại Lâm dùng thức ăn dụ dỗ một con khỉ cái. Bị các vị khác bắt gặp, vị ấy cãi:

“Điều học đã được đức Thế Tôn quy định và điều ấy là với người nữ chứ không phải với thú cái.”

Đức Phật thêm cụm từ “ngay cả với loài thú cái” (lần thứ hai).

Các vị Vajjiputtaka ở Vesālī

Một số vị chưa xả giới đã sống buông thả như người đời, sau hối tiếc, nhờ Tôn giả Ānanda xin được tu lại. Đức Phật dạy:

“Này Ānanda, việc Như Lai có thể hủy bỏ điều học pārājika đã được quy định cho các đệ tử vì lý do của các vị Vajjī hoặc của những người con trai của các vị Vajjī là điều không có cơ sở và không hợp lý.”

Vị đã lìa bỏ sự học tập rồi mới làm việc ấy thì sau này có thể được tu lên bậc trên; vị chưa lìa bỏ thì không. Ngài thêm cụm từ “khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược” (lần thứ ba).

“Này kẻ rồ dại, … tại sao ngươi đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời?”Lời Đức Phật khiển trách Tỳ-khưu Sudinna — Tạng Luật, Indacanda dịch
📜Trích đoạn duyên sự: Sudinna ăn năn và lời khiển trách“Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! …”

“Sau đó, đại đức Sudinna đã có sự ăn năn, đã có nỗi ân hận: ‘Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Bởi vì ta đây đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời!’ Do chính sự ăn năn ấy và do nỗi ân hận ấy, vị ấy đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, tâm trở nên lãnh đạm, trì trệ, khổ sở, buồn bã, ăn năn, và có vẻ thờ thẩn.” (§23)

“— Này Sudinna, nghe nói ngươi thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ, có đúng không vậy?
— Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” (§31)

“Này kẻ rồ dại, thà ngươi … vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp còn là điều cao thượng … Điều ấy có lý do như thế nào? Này kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục.” (§37)

“…đức Thế Tôn đã chê bai về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức Ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức nỗ lực.” (§39)

Đứa bé được bạn bè gọi là “Chủng Tử” (Bījaka). “Thời gian sau, cả hai mẹ con ấy đã rời nhà xuất gia sống không nhà và đã chứng đắc phẩm vị A-la-hán.” (§22)

Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Điều pārājika thứ nhất (trích) — Tỳ-khưu Indacanda dịch

🔟

Chính sau chuyện Sudinna, Đức Phật lần đầu nói “Ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích”. Câu này được lặp lại ở mọi điều học (xem Bài 1, Phần 3).

Phân tích từ ngữ Tạng Luật

Ngay sau điều học, Tạng Luật giải thích từng chữ (padabhājanīya). Đây là chỗ dựa để xét thế nào là phạm.

Tỳ khưubhikkhu
“‘Vị đi khất thực’ là tỳ khưu. … Ở đây, vị tỳ khưu đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất, bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì, vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.”
Sự học tậpsikkhā
“Có ba sự học tập: sự học tập về tăng thượng giới, sự học tập về tăng thượng tâm, sự học tập về tăng thượng tuệ. Ở đây, ‘sự học tập’ được đề cập trong ý nghĩa này là sự học tập về tăng thượng giới.”
Lối sốngsājīva
“…điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định, điều học ấy gọi là lối sống.”
Chưa lìa bỏ sự học tập, chưa bày tỏ lòng yếu nhượcsikkhaṃ appaccakkhāya dubbalyaṃ anāvikatvā
Tạng Luật phân biệt hai trường hợp. Nói kiểu ngập ngừng, mong ước — “‘Hay là tôi nên lìa bỏ sự học tập?’ … ‘Tôi nhớ mẹ.’” — là “có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ”. Tuyên bố dứt khoát — “‘Tôi lìa bỏ đức Phật.’ … ‘Tôi lìa bỏ Giáo Pháp.’” — mới là “có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ”.
Việc đôi lứamethunadhamma
“…việc nào là việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa; việc ấy gọi là việc đôi lứa.”
Thực hiệnpaṭisevati
“Thực hiện nghĩa là vị nào đưa vật biểu tượng vào vật biểu tượng, … cho dầu chỉ (đưa vào) khoảng cách bằng hạt mè, vị ấy được gọi là thực hiện.”
Ba đường, hai đường (các khiếu)tayo maggā · dve maggā
“Vị thực hiện việc đôi lứa với người nữ theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.” Phi nhân nữ, thú cái, và ba hạng lưỡng căn (người, phi nhân, thú) cũng theo ba đường ấy. “Vị thực hiện việc đôi lứa với người vô căn theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.” Phi nhân vô căn, thú vô căn và ba hạng nam (người nam, phi nhân nam, thú đực) cũng theo hai đường ấy. Phần chuyện dẫn giải gọi các đường này là “đường khiếu”: “Đưa vào đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào nơi không phải là đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào nơi không phải là đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội thullaccaya.”
Manussitthiyā tayo magge methunaṃ dhammaṃ paṭisevantassa āpatti pārājikassa — vaccamagge, passāvamagge, mukhe.

Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch

Xả học (hoàn tục) thế nào mới thành? Tạng Luật

Điều học nói “khi chưa lìa bỏ sự học tập”. Vì vậy vị nào muốn trở lại đời sống tại gia phải xả học cho đúng trước. Tạng Luật kể những câu tuyên bố làm cho sự học tập được lìa bỏ, ví dụ:

“…nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.”

Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Pārājika 1 — Tỳ-khưu Indacanda dịch
14 câu “Tôi lìa bỏ…”
  1. đức Phật
  2. Giáo Pháp
  3. Hội Chúng
  4. sự học tập
  5. Luật
  6. giới bổn Pātimokkha
  7. việc đọc tụng
  8. thầy tế độ
  9. thầy dạy học
  10. đệ tử
  11. học trò
  12. vị có chung thầy tế độ
  13. vị có chung thầy dạy học
  14. vị đồng Phạm hạnh
8 câu “Hãy ghi nhận tôi là…”
  1. gia chủ
  2. cư sĩ
  3. người phụ việc chùa
  4. sa di
  5. ngoại đạo
  6. đệ tử ngoại đạo
  7. không phải là Sa-môn
  8. không phải là Thích tử

Tạng Luật còn kể những cách nói cùng ý (“Tôi đã chán…”, “Tôi còn liên quan gì với…”, “Tôi không cần đến…”, “Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi…”). Ngược lại, sự học tập chưa được lìa bỏ khi:

  1. người nói bị điên, có tâm bị rối loạn, bị thọ khổ hành hạ; hoặc người chứng minh là người như thế;
  2. nói trong sự chứng minh của Thiên nhân hay của loài thú;
  3. người nghe không hiểu thứ ngôn ngữ được dùng;
  4. nói đùa, hoặc lỡ lời;
  5. nói mà có ý không cho nghe, hoặc muốn cho nghe mà người kia không nghe được;
  6. nói với kẻ không hiểu biết, hoặc không nói ra đầy đủ.

“…Vị lìa bỏ điều học theo lối đùa cợt thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học do bị lỡ lời thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ.”

Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Pārājika 1 — Tỳ-khưu Indacanda dịch

Sáu chi của việc xả học Tỳ-khưu Hộ Pháp

HT. Hộ Pháp (Gương Bậc Xuất Gia, mục “Xả giới Tỳ khưu”) tóm lại theo Sāratthadīpanī-ṭīkā: việc xả học chỉ thành khi đủ sáu chi.

ChiPāliÝ nghĩa
1. Tâmcittathật tâm muốn xả; nói đùa thì không thành
2. Lời nóikhettadùng những câu theo Tạng Luật (14 câu lìa bỏ, 8 câu tự nhận là người khác)
3. Thờikālađộng từ ở thì hiện tại; nói “đã xả” (paccakkhiṃ), “sẽ xả” (paccakkhissāmi) thì không thành
4. Cách biểu hiệnpayogachỉ bằng lời nói; viết chữ, lắc đầu, ra dấu thì không thành
5. Người nghepuggalalà người (xuất gia hay tại gia, nam hay nữ), đang bình tĩnh, có hiểu biết
6. Sự hiểuvijānanangười nghe hiểu rõ câu nói: vị ấy không còn là Tỳ-khưu, nay là người tại gia

Câu thường dùng ngày nay: “Sikkhaṃ paccakkhāmi, gihī’ti maṃ dhārehi.” Nghĩa: “Tôi xả giới Tỳ khưu, xin Ngài (ông...) nhận biết tôi là người tại gia”.

⚠️

Xả không thành thì vẫn còn là Tỳ-khưu. Theo HT. Hộ Pháp, nếu thiếu một chi thì vị ấy “vẫn còn là Tỳ khưu, mà tưởng lầm rằng: mình đã xả giới rồi”; nếu về sau sống đời vợ chồng thì phạm Bất cộng trú, dù biết hay không biết. Ngài nhắc: “cần phải nên thận trọng, hiểu rõ đầy đủ 6 chi pháp ấy”. Đức Phật cho phép xả giới để trở lại làm cư sĩ hay sa-di, không bắt buộc phải là Tỳ-khưu trọn đời; nhưng còn là Tỳ-khưu thì phải giữ giới trọn vẹn.

Các trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật

📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · Bất cộng trú 1Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 80 câu xử tội

Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại. Lược bớt 32 câu tả chi tiết thân thể; xem nguyên văn trong Tạng Luật.

Đoạn 30

  • Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như người đàn ông bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy, tương tợ như thế vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử; vì thế được gọi ‘là vị phạm tội pārājika.’pārājika

Đoạn 33

  • Vị thực hiện việc đôi lứa với người nữ theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân nữ … với thú cái theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Vị thực hiện việc đôi lứa với người lưỡng căn … với phi nhân lưỡng căn … với thú lưỡng căn theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 34

  • Vị thực hiện việc đôi lứa với người vô căn theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân vô căn … với thú vô căn … với người nam … với phi nhân nam … với thú đực theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 37

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, (nhưng) ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, (nhưng) ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, (nhưng) ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, không ưng thuận việc rút ra thì vô tội.vô tội

Đoạn 38

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 39

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo … đang ngủ … đang say sưa … bị điên … đang đờ đẫn … đã chết chưa bị (thú) ăn … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 40

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 41

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 42

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo … đang ngủ … đang say sưa … bị điên … đang đờ đẫn … đã chết chưa bị (thú) ăn … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 43

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 44

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 45

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem thú vô căn đang tỉnh táo … đang ngủ … đang say sưa … bị điên … đang đờ đẫn … đã chết chưa bị (thú) ăn … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 46

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 47

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 48

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem thú nam đang tỉnh táo … đang ngủ … đang say sưa … bị điên … đang đờ đẫn … đã chết chưa bị (thú) ăn … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 49

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 50

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 51

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ... bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...
  • Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 52

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 53

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 54

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo … đang ngủ … đang say sưa … bị điên … đang đờ đẫn … đã chết chưa bị (thú) ăn … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … thì phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 55

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 56

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 57

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn … thú đực đang tỉnh táo … đang ngủ … đang say sưa … bị điên … đang đờ đẫn … đã chết chưa bị (thú) ăn … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 58

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 59

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 60

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ... bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...
  • Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika … không ưng thuận thì vô tội.pārājikavô tội

Đoạn 61

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 62

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 63

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo … đang ngủ … đang say sưa … bị điên … đang đờ đẫn … đã chết chưa bị (thú) ăn … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 64

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 65

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 66

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ... bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...
  • Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 67

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 68

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 69

  • Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ...bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...
  • Nếu vị ấy ưng thuận … thì phạm tội pārājika.pārājika
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 70

  • Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • … không ưng thuận thì vô tội.vô tội

Đoạn 71

  • Các kẻ trộm cướp đối nghịch ...
  • Các kẻ vô lại đối nghịch ...
  • Các kẻ thảo khấu đối nghịch ... thì phạm tội ... thì vô tội (nên phân tích tương tợ như ở các phần liên quan đến ‘các tỳ khưu đối nghịch’). [Phần ‘Được Che Phủ’ đã được giảng xong].vô tội

Đoạn 72

  • Đưa vào đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Đưa vào nơi không phải là đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Đưa vào đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Đưa vào nơi không phải là đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya

Đoạn 77

  • Vị không biết, vị không ưng thuận, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội

Chuyện dẫn giải Tạng Luật

Cuối mỗi điều, Tạng Luật ghi lại những vụ việc có thật: vị Tỳ-khưu sinh nghi “phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” rồi trình lên Đức Phật (vinītavatthu). Hãy thử đoán trước khi bấm xem lời phán.

Chuyện (3)–(11)“Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): ‘Như thế này thì ta sẽ không phạm tội’ rồi đã thực hiện việc đôi lứa với hình tướng gia chủ.” Có vị khác thì lõa thể, mặc vải sợi cỏ, mặc vỏ cây…⚖️ Đức Phật phán?

pārājika“Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

Thay hình tướng không thay được thân phận: vị ấy chưa lìa bỏ sự học tập nên vẫn là tỳ khưu.
Chuyện (42)“Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thực hiện việc đôi lứa với người nữ’ nhưng chỉ mới chạm vào vị ấy đã hối hận.”⚖️ Đức Phật phán?

saṅghādisesa“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.”

Việc chưa thành thì chưa phạm điều này; xúc chạm người nữ với tâm ái nhiễm thuộc Tăng tàn 2 (Bài 3).
Chuyện (13)Một thanh niên Bà-la-môn say đắm Tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā, nấp sẵn trong liêu cốc, rồi cưỡng bức Ni sư khi Ni sư đi khất thực về.⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này các tỳ khưu, vị ni không ưng thuận thì vô tội.”

Người bị cưỡng bức mà không ưng thuận thì không phạm; lỗi thuộc về kẻ làm bậy.
Chuyện (48)Một vị ngủ ngày ở Đại Lâm, Vesālī. Một người nữ xâm hại vị ấy trong lúc ngủ rồi đứng cạnh cười; vị ấy thức giấc mới biết chuyện.⚖️ Đức Phật phán?

“— Này tỳ khưu, ngươi có ưng thuận không?
— Bạch Thế Tôn, con không biết.”

vô tội“Này tỳ khưu, vị không biết thì vô tội.”

Chuyện (24)–(25)Một vị khởi dục, đem thân mình chạm vào hình người nữ trong tranh vẽ; một vị khác chạm vào tượng gỗ.⚖️ Đức Phật phán?

dukkaṭa“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.”

Vật vô tri không phải là đối tượng của điều này, nhưng tâm dục vẫn bị chế ngự bằng tội nhẹ.
Chuyện (14)“Vào lúc bấy giờ, tướng trạng người nữ đã xuất hiện ở vị tỳ khưu nọ.”⚖️ Đức Phật dạy?

cho phép“Này các tỳ khưu, Ta cho phép chuyển sang (sinh hoạt) với các tỳ khưu ni (và vẫn giữ nguyên) thầy tế độ ấy, sự tu lên bậc trên ấy, các năm (thâm niên) ấy.”

Không phải chuyện phạm tội. Tạng Luật ghi cả những trường hợp hiếm để chư Tăng biết cách xử lý.

Bốn chi phần Bình giải · BMC

Ṭhānissaro Bhikkhu gom những điều trên thành các chi phần. Bấm từng chi để thử bỏ bớt:

🎯
Hành động & đối tượng
  • Giao hợp qua một trong các đường (khiếu, magga) mà Tạng Luật kể rõ (xem ba đường, hai đường), dù chỉ bằng một hạt mè; chủ động hay thụ động, có vật che hay không, có đạt khoái cảm hay không đều như nhau.
  • Đối tượng: người, phi nhân hay loài thú; nữ, nam hay lưỡng tính; kể cả tử thi còn nguyên vẹn.
🧠
Biết & ưng thuận
  • Vị bị xâm hại khi đang ngủ say, không hay biết thì không phạm (chuyện 48).
  • Nếu biết, chỉ cần ưng thuận ở bất kỳ giai đoạn nào là phạm. Vị không ưng thuận thì không phạm: “Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.” (Indacanda dịch)
🧭

Lối ra đàng hoàng: vị nào không còn muốn sống đời phạm hạnh thì nên xả giới (sikkhaṃ paccakkhāti) bằng lời tuyên bố dứt khoát như phần phân tích từ ngữ đã nêu, nói với người hiểu được lời mình. Khi đó vị ấy trở thành cư sĩ, không phạm điều này, và sau này vẫn có thể xin tu lại.

📜Tội nhẹ hơn liên quan đến điều 1Khi hành vi không hội đủ chi phần của tội bất cộng trú…

• Với tử thi đã bị thú ăn gần hết: thullaccaya (chuyện 33).

• Với vật vô tri như tranh vẽ, tượng gỗ: dukkaṭa (chuyện 24–25).

• Xúc chạm thân thể người nữ với tâm ái nhiễm mà không hành dâm: xét theo Tăng tàn 2 (chuyện 42; học ở Bài 3).

Theo The Buddhist Monastic Code I, chương 4 (Ṭhānissaro Bhikkhu), đối chiếu chuyện dẫn giải trong Tạng Luật

✓ Không phạm (Indacanda dịch)

“Vị không biết, vị không ưng thuận, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

🪵
PHẦN 3 · PĀRĀJIKA 2

Điều 2 · Trộm cắp Adinnādāna

Yo pana bhikkhu gāmā vā araññā vā adinnaṃ theyyasaṅkhātaṃ ādiyeyya, yathārūpe adinnādāne rājāno coraṃ gahetvā haneyyuṃ vā bandheyyuṃ vā pabbājeyyuṃ vā “corosi bālosi mūḷhosi thenosī”ti, tathārūpaṃ bhikkhu adinnaṃ ādiyamāno ayampi pārājiko hoti asaṃvāso.
“Vị tỳ khưu nào lấy vật không được cho từ làng hoặc từ rừng theo lối trộm cướp; tương tợ như trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được kẻ trộm thì có thể hành hạ, hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán rằng): ‘Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ cướp;’ tương tợ như thế, vị tỳ khưu trong khi lấy vật không được cho, vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Indacanda dịch · quy định lần thứ hai (bản cuối cùng)
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
gāmā vā araññā vātừ làng hoặc từ rừngxuất xứ cách số ít; vā … vā: hoặc … hoặc
adinnaṃvật không được choa + dinna (quá khứ phân từ của dadāti: cho)
theyyasaṅkhātaṃtheo cách được kể là trộm cắptheyya (sự trộm) + saṅkhāta (được xem là)
ādiyeyyalấykhả năng cách, ngôi 3 số ít của ādāti
yathārūpe adinnādāneviệc lấy vật không được cho thuộc loại mà vì nó…vị trí cách chỉ lý do
rājāno coraṃ gahetvācác nhà cầm quyền (vua, quan) bắt được kẻ cướprājāno: chủ cách số nhiều; gahetvā: bất biến quá khứ của gaṇhāti
haneyyuṃ · bandheyyuṃ · pabbājeyyuṃcó thể trừng phạt thân thể · giam giữ · trục xuấtkhả năng cách, ngôi 3 số nhiều
coro’si · bālo’si · mūḷho’si · theno’sīngươi là kẻ cướp · kẻ ngu · kẻ mê muội · kẻ trộm…’si = asi: ngươi là
tathārūpaṃ … adinnaṃ ādiyamānotrong khi lấy vật không được cho thuộc loại như thếādiyamāno: hiện tại phân từ
ayam-pi pārājiko hoti asaṃvāsovị này cũng là vị bị truất, không được cộng trúpi: cũng

Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.

Duyên sự Tạng Luật

Tỳ-khưu Dhaniya, con người thợ gốm

An cư ở sườn núi Isigili gần Rājagaha. Ba lần đi khất thực về, túp lều cỏ đều bị “những cô cắt cỏ, những cô mót củi” tháo mang đi. Vị ấy vốn giỏi nghề gốm, bèn nhồi đất làm một cốc toàn bằng đất sét rồi nung chín, “có màu đỏ như cánh kiến”. Đức Phật thấy, bảo:

“Này các tỳ khưu, kẻ rồ dại ấy quả không có sự quan tâm, không có lòng thương xót, không có tâm vô hại đối với các sanh mạng! Này các tỳ khưu, hãy đi và phá vỡ túp lều ấy.”
Gỗ dự trữ của vua

Dhaniya đến người giữ kho gỗ là chỗ quen biết, xin những cây gỗ vua để dành tu bổ thành phố phòng lúc hữu sự, và nói:

“Này đạo hữu, đã được đức vua cho rồi.”

Người giữ kho bị bắt trói. Dhaniya vào cung, viện lời vua tuyên bố khi mới lên ngôi: “Cỏ, gỗ, và nước đã được dâng đến các Sa-môn và Bà-la-môn.” Vua tha cho vị ấy; dân chúng chê bai.

Mức tội mà vua xử

Đức Phật hỏi một vị Tỳ-khưu vốn là quan xử án: vua Bimbisāra bắt kẻ trộm về tội lấy bao nhiêu thì trừng phạt?

“Bạch Thế Tôn, với một pāda, hoặc tương đương với một pāda.” Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha năm māsaka thì bằng một pāda.

Điều học được chế lần thứ nhất.

Nhóm Lục Sư ở chỗ nhuộm y

Nhóm sáu vị lấy trộm gói đồ nhuộm rồi biện bạch:

“Điều học đã được đức Thế Tôn quy định và điều ấy là ở trong làng, không phải ở trong rừng.”

Đức Phật thêm cụm từ “từ làng hoặc từ rừng” (lần thứ hai).

“…Ngài được tự do nhờ vào hình tướng. Ngài cũng chớ có tái phạm việc như vầy nữa!”Vua Seniya Bimbisāra nói với Tỳ-khưu Dhaniya — Tạng Luật, Indacanda dịch
📜Trích đoạn duyên sự: Dhaniya trước vua Bimbisāra“Tâu đại vương, ngài có nhớ khi được phong vương lần thứ nhất…”

“— Thưa ngài, nghe nói những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng phòng lúc hữu sự đã được trẫm cho đến ngài, có đúng không vậy?
— Tâu đại vương, đúng vậy.
— Thưa ngài, chúng tôi là những vị vua có nhiều phận sự, có nhiều việc phải làm, ngay cả sau khi đã cho chúng tôi cũng không thể nhớ được. Thưa ngài, giờ xin hãy nhắc lại.
— Tâu đại vương, ngài có nhớ khi được phong vương lần thứ nhất ngài đã tuyên bố lời như vầy: ‘Cỏ, gỗ, và nước đã được dâng đến các Sa-môn và Bà-la-môn, hãy để cho các vị sử dụng.’
— Thưa ngài, trẫm đã nhớ rồi. Thưa ngài, có những Sa-môn và Bà-la-môn khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy có sự hối hận cho dù sự việc là nhỏ nhặt, và vật đã được trẫm nói có liên quan đến các vị ấy là vật vô chủ ở trong rừng. Thưa ngài, ngài đây suy nghĩ dùng mưu mẹo ấy để lấy vật chưa được cho là các cây gỗ. Làm sao trẫm đây có thể hành hạ, hoặc giam giữ, hoặc trục xuất vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn đang cư ngụ trong lãnh thổ được? Thưa ngài, ngài hãy đi. Ngài được tự do nhờ vào hình tướng. Ngài cũng chớ có tái phạm việc như vầy nữa!” (§19)

“— Này Dhaniya, nghe nói ngươi lấy vật chưa được cho là các cây gỗ của đức vua, có đúng không vậy?
— Bạch Thế Tôn, đúng vậy. …
— Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin.” (§22)

Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Điều pārājika thứ nhì (trích) — Tỳ-khưu Indacanda dịch

Sườn núi Isigili, nơi Tỳ-khưu Dhaniya làm cốc bằng đất nung

Phân tích từ ngữ Tạng Luật

Lànggāma
“…một túp lều cũng là làng. Hai túp lều cũng là làng. … Nơi các bầy bò chăn thả dừng lại tạm nghỉ cũng được gọi là làng. Thậm chí đoàn xe tải của thương buôn dừng lại trên bốn tháng cũng được gọi là làng.”
Vùng ven lànggāmūpacāra
“…(tính đến) chỗ rơi xuống của cục đất được ném đi bởi người nam (có sức mạnh) hạng trung đứng ở bục cổng của ngôi làng được rào lại…”
Rừngarañña
“…trừ đi làng và vùng ven làng, phần còn lại gọi là rừng.”
Vật không được choadinna
“…vật nào chưa được cho, chưa được trao, chưa được dứt bỏ, được bảo vệ, được canh giữ, có sở hữu chủ, được quản lý bởi người khác; vật ấy là vật không được cho.”
Theo lối trộm cướptheyyasaṅkhāta
“…có tâm trộm cướp, có tâm lấy trộm.”
Lấyādiyeyya
“…vị lấy đi, vị mang đi, vị lấy trộm, vị làm thay đổi tư thế, vị làm di chuyển khỏi vị trí, vị vượt qua sự quy định.”
Có hình thức như thếtathārūpa
“…một pāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc hơn một pāda.”
Các vị vuarājāno
“…các vị vua (cai trị) toàn trái đất, các vị vua của một xứ, các vị vua của một vùng, các vị trưởng bộ tộc, các quan xử án, các quan đại thần, hoặc các vị nào điều khiển việc gia hình…”
Kẻ trộmcora
“…kẻ nào lấy đi theo lối trộm cướp vật không được cho trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka, kẻ ấy gọi là kẻ trộm.”

Sau đó Tạng Luật xét lần lượt 30 mục. Mục nào cũng được định nghĩa trước rồi mới tính tội. Cách tính gặp nhiều nhất là bậc thang sờ vào → làm lay động → làm dời khỏi vị trí (dukkaṭa → thullaccaya → pārājika). Nhưng 18 mục, đánh dấu ◆, còn có cách tính riêng theo bản chất của vật: gói hàng (chuyển chỗ trên thân), đất đai (kiện cáo, dời cọc ranh), nước trong đập, cây rừng (từng nhát dao), vật ký gởi (chối không trả), trạm thuế, người và thú vật (dẫn đi từng bước), và người chỉ bảo, bàn mưu.

👆 Bấm vào một thẻ ở trên (trên máy tính có thể rê chuột) để đọc định nghĩa nguyên văn của Tạng Luật.

“Vật ở trên đất nghĩa là vật được đặt xuống ở trên mặt đất. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trên mặt đất: ‘Ta sẽ lấy trộm,’ rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.”

Với vật đựng trong hũ: “…đưa ra khỏi miệng hũ cho dù khoảng cách chỉ mảnh như sợi tóc thì phạm tội pārājika.”

Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch

Các trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật

📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · Bất cộng trú 2Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 105 câu xử tội

Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.

Đoạn 4

  • Thậm chí đoàn xe tải của thương buôn dừng lại trên bốn tháng cũng được gọi là làng.
  • Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ cướp: Điều này là sự quở trách.
  • Vị này cũng: được đề cập liên quan đến vị trước đây Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như chiếc lá vàng đã lìa khỏi cành không thể xanh trở lại, tương tợ như thế vị tỳ khưu lấy đi theo lối trộm cướp vật không được cho có giá trị một pāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc hơn một pāda thì không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế, được gọi là ‘vị phạm tội pārājika.’ Không được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú.pārājika

Đoạn 2

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong đất: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai, hoặc tìm kiếm cái thuổng hay cái giỏ, hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; chặt cây hoặc dây leo mọc ở nơi ấy thì phạm tội dukkaṭa; đào đất, hoặc xắn ra, hoặc lấy lên thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào cái hũ thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Sau khi đưa vật đựng của mình vào (trong hũ) rồi khởi tâm trộm cắp vật có giá trị năm māsaka hoặc hơn năm māsaka, sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; bỏ vào trong vật đựng của mình hoặc tách ra một nắm tay thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp vật làm theo dạng sợi: hoặc là dây thắt lưng, hoặc là dây chuyền cổ, hoặc là dây chuyền ở hông, hoặc là tấm vải choàng, hoặc là khăn xếp đội đầu, sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; nắm vào chóp (của một vật nào) rồi nâng lên thì phạm tội thullaccaya; chà xát rồi bỏ xuống thì phạm tội thullaccaya; đưa ra khỏi miệng hũ cho dù khoảng cách chỉ mảnh như sợi tóc thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp bơ lỏng, hay dầu ăn, hay mật ong, hay nước mía rồi uống trong một lần trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Ngay tại chỗ đó, đập bể, hoặc đổ bỏ, hoặc đốt đi, hoặc làm cho không còn sử dụng được nữa thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 3

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trên mặt đất: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 4

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trên không: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; làm gián đoạn sự di chuyển thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 4

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở khoảng không: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 6

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong nước: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; lặn xuống hoặc nổi lên thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp hoặc là đóa sen xanh, hoặc là đóa sen hồng, hoặc là đóa sen trắng, hoặc là ngó sen mọc ở nơi ấy, hoặc là cá, hoặc là rùa trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 7

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trên chiếc thuyền: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp chiếc thuyền: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; tháo dây buộc thì phạm tội dukkaṭa; sau khi tháo dây buộc, sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển lên, hoặc xuống, hoặc ngang, cho dù khoảng cách chỉ mảnh như sợi tóc thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 8

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong xe: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp chiếc xe: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 9

  • Vị khởi tâm trộm cắp gói hàng ở trên đầu rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; đưa xuống vai thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào gói hàng ở trên vai thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; đưa xuống hông thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp gói hàng ở hông rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; cầm bằng tay thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp gói hàng ở tay rồi đặt xuống mặt đất thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp rồi nhấc lên khỏi mặt đất thì phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 10

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong vườn: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp vật mọc ở nơi ấy hoặc là rễ cây, hoặc là vỏ cây, hoặc là lá cây, hoặc là bông hoa, hoặc là trái cây trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị kiện cáo về khu vườn thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Khu vườn) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya

Đoạn 11

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong trú xá: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị kiện cáo về trú xá thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Trú xá) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya

Đoạn 12

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong ruộng: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp thóc lúa hoặc là rau xanh trồng ở nơi ấy trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị kiện cáo về mảnh ruộng thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Thửa Ruộng) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • Vị di chuyển cọc ranh, hoặc dây ngăn, hoặc hàng rào, hoặc ranh giới thì phạm tội dukkaṭa; khi phần việc cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm tội thullaccaya; khi phần việc cuối cùng ấy đã hoàn tất thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 13

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong khu đất: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị kiện cáo về khu đất thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Khu đất) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya
  • Vị di chuyển cọc ranh, hoặc dây ngăn, hoặc hàng rào, hoặc tường thành thì phạm tội dukkaṭa; khi phần việc cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm tội thullaccaya; khi phần việc cuối cùng ấy đã hoàn tất thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 14

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong làng: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 15

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong rừng: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị khởi tâm trộm cắp hoặc là cây gỗ, hoặc là dây leo, hoặc là cỏ mọc ở nơi ấy trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 16

  • Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Sau khi đưa vật đựng của mình vào, vị khởi tâm trộm cắp số nước trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm cho (nước) vào hẳn trong vật đựng của mình thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị phá vỡ tường thành thì phạm tội dukkaṭa; sau khi phá vỡ tường thành rồi làm cho thoát ra lượng nước trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội pārājika; làm cho thoát ra lượng nước trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka thì phạm tội thullaccaya; làm cho thoát ra lượng nước trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭapārājikathullaccaya

Đoạn 17

  • Vị khởi tâm trộm cắp vật trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 18

  • Vị khởi tâm trộm cắp rồi (dùng dao) chặt thì phạm tội dukkaṭa theo mỗi nhát dao; khi nhát dao cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm tội thullaccaya; khi nhát dao cuối cùng đã hoàn tất thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 19

  • Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi người khuân vác cùng với vật” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Nghĩ rằng): “Ta sẽ nhặt lấy vật bị rơi” rồi làm cho (vật) rơi xuống thì phạm tội dukkaṭa.Vị khởi tâm trộm cắp vật bị rơi xuống trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 20

  • Khi được nói rằng: “Cho tôi vật (đã ký gởi)” vị trả lời: “Tôi không có giữ” thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về việc ký gởi) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ vấn đề: “Người này sẽ không trao cho ta!” thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.thullaccaya

Đoạn 21

  • Sau khi đi vào nơi đó, vị khởi tâm trộm cắp vật có thuế phải đóng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; vượt qua khỏi trạm thuế bước thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; vượt qua bước thứ nhì thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • Vị đứng ở giữa trạm thuế và ném ra khỏi trạm thuế thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Vị tránh né việc đóng thuế thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 22

  • Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 23

  • Vị khởi tâm trộm cắp (loài không chân) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 24

  • Vị khởi tâm trộm cắp (loài hai chân) rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 25

  • Vị khởi tâm trộm cắp (loài bốn chân) rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ ba thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ tư thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 26

  • Vị khởi tâm trộm cắp (loài nhiều chân) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika
  • (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển cứ mỗi bước chân thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân cuối cùng thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 27

  • Người theo dõi nghĩa là sau khi theo dõi vật dụng rồi nói rằng: “Hãy lấy trộm vật dụng tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia lấy trộm vật dụng ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 28

  • Vị khởi tâm trộm cắp (vật ký gởi) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 29

  • Lấy trộm theo kế hoạch nghĩa là sau khi nhiều vị bàn thảo rồi một vị lấy trộm đồ vật thì tất cả đều phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 30

  • Hành động theo sự quy định nghĩa là lập nên sự quy định rằng: “Hãy lấy trộm vật ấy vào giờ quy định ấy, hoặc là trước bữa ăn, hoặc là sau bữa ăn, hoặc là ban đêm, hoặc là ban ngày” thì phạm tội dukkaṭa; (vị kia) lấy trộm đồ vật ấy vào giờ quy định ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (vị kia) lấy trộm đồ vật ấy trước hay sau giờ quy định ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.dukkaṭapārājikavô tội

Đoạn 31

  • Hành động theo dấu hiệu nghĩa là lập nên dấu hiệu rằng: “Hoặc là tôi sẽ nháy mắt, hoặc là tôi sẽ nhướng mày, hoặc là tôi sẽ ngẩng đầu lên, ngươi hãy lấy trộm vật ấy theo dấu hiệu ấy” thì phạm tội dukkaṭa; (vị kia) lấy trộm vật ấy theo dấu hiệu ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (vị kia) lấy trộm vật dụng ấy trước hay sau dấu hiệu ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.dukkaṭapārājikavô tội

Đoạn 32

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết vật ấy rồi lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 33

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết vật ấy rồi lấy trộm vật khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.vô tộipārājika

Đoạn 34

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết vật khác rồi lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 35

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết vật khác rồi lấy trộm vật khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.vô tộipārājika

Đoạn 36

  • Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy lấy trộm vật tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị (nào) nói cho vị khác thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị lấy trộm (D) đồng ý thì vị khởi xướng (A) phạm tội thullaccaya; vị ấy (D) lấy trộm vật ấy thì tất cả đều phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 37

  • Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy lấy trộm vật tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị ấy (B) chỉ thị vị khác (D) thì vị ấy (B) phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị lấy trộm (D) đồng ý thì vị ấy (D) phạm tội dukkaṭa; vị ấy (D) lấy trộm vật ấy thì vị khởi xướng (A) vô tội, vị truyền chỉ thị (B) và vị lấy trộm (D) phạm tội pārājika.dukkaṭavô tộipārājika

Đoạn 38

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị ấy lại chỉ thị thêm: “Khi nào ngươi có thể thì khi ấy ngươi hãy lấy trộm vật ấy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 39

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận nhưng không nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.”
  • Vị kia lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 40

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.”
  • Vị kia (đáp lại rằng): “Tôi đã được ngài chỉ thị” rồi lấy trộm vật ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.vô tộipārājika

Đoạn 41

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.”
  • Vị kia (đáp lại rằng): “Tốt thôi” rồi ngưng lại thì cả hai vô tội.vô tội

Đoạn 42

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội pārājika do năm yếu tố: là vật thuộc về người khác; biết vật thuộc về người khác; là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội thullaccaya, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 43

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội thullaccaya do năm yếu tố: là vật thuộc về người khác; biết vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội thullaccaya.dukkaṭathullaccaya

Đoạn 44

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật thuộc về người khác; biết vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 45

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội pārājika do sáu yếu tố: biết vật không thuộc về mình; lấy không phải do sự thân thiết; không phải (mượn) trong thời hạn; là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội thullaccaya, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.dukkaṭathullaccayapārājika

Đoạn 46

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội thullaccaya do sáu yếu tố: biết vật không thuộc về mình; lấy không phải do sự thân thiết; không phải (mượn) trong thời hạn; là vật dụng tầm thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội thullaccaya.dukkaṭathullaccaya

Đoạn 47

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do sáu yếu tố: biết vật không thuộc về mình; lấy không phải do sự thân thiết; không phải (mượn) trong thời hạn; là vật dụng tầm thường trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 48

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật không thuộc về người khác; nghĩ là vật thuộc về người khác; là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 49

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật không thuộc về người khác; nghĩ là vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 50

  • Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật không thuộc về người khác; nghĩ là vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 51

  • Tưởng là của mình, khi lấy do sự thân thiết, (mượn) trong thời hạn, thuộc về người chết, thuộc về loài thú, nghĩ là vật bị quăng bỏ, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội

Chuyện dẫn giải Tạng Luật

Bốn chuyện đầu xảy ra ở chỗ nhuộm y: một vị thấy tấm vải quý giá và khởi tâm trộm cắp. Lời phán đi đúng theo bậc thang ở trên:

Chỉ khởi tâm“Này tỳ khưu, vô tội trong việc sanh khởi tâm.”
Sờ vào“…không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.”
Làm lay động“…không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”
Làm dời khỏi vị trí“Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Chuyện (26)Một vị căng y phơi ngoài trời rồi vào trú xá. Vị khác sợ y hư nên đem cất giùm. Chủ y ra hỏi ai lấy trộm, vị kia nói đùa: “Đã bị tôi lấy trộm.” Chủ y giữ lại: “Ngươi không phải là Sa-môn.”⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này tỳ khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.”

Tội tùy vào tâm lúc lấy, không tùy vào câu nói đùa sau đó.
Chuyện (31)–(32)Gió xoáy cuốn tấm vải choàng của người ta bay đi. Một vị nhặt lấy, nghĩ: “Ta sẽ cho lại những người chủ.” Một vị khác thấy khăn đội đầu bị gió cuốn, khởi tâm trộm cắp: “(Phải hành động) trước khi những người chủ nhìn thấy.”⚖️ Đức Phật phán?

vô tộiVị thứ nhất: “Này tỳ khưu, vị không có tâm trộm cắp thì vô tội.”

pārājikaVị thứ hai: “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

Cùng một hành động nhặt lấy, khác nhau ở tâm.
Chuyện (35)Trong nhà tắm hơi, Tôn giả Ānanda tưởng y nội của một vị khác là của mình nên mặc vào.⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.”

Chuyện (59)Một vị lấy trộm y trong trú xá, rồi nghĩ: “Khi đi ra khỏi đây thì ta sẽ phạm tội pārājika,” nên cứ ở lì trong trú xá.⚖️ Đức Phật phán?

pārājika“Này các tỳ khưu, kẻ rồ dại ấy dầu có đi ra hay không đi ra cũng đã phạm tội pārājika.”

Tội thành ngay khi vật bị dời khỏi chỗ với tâm trộm, không đợi mang ra ngoài.
Chuyện (63)–(70)Kẻ trộm xoài bị chủ vườn đuổi, đánh rơi gói xoài rồi chạy. Có những vị tưởng là vật quăng bỏ nên nhặt về dùng. Có những vị khác khởi tâm trộm cắp: “(Phải hành động) trước khi những người chủ nhìn thấy.”⚖️ Đức Phật phán?

vô tộiNhóm đầu: “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.”

pārājikaNhóm sau: “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.”

Chuyện (92)–(93)Một vị thấy con heo rừng mắc bẫy, vì lòng thương xót nên gỡ ra. Một vị khác gỡ con heo mắc bẫy với tâm trộm cắp, trước khi người chủ bẫy nhìn thấy.⚖️ Đức Phật phán?

vô tộiVị đầu: “Này tỳ khưu, vị vì lòng thương xót thì vô tội.”

pārājikaVị sau: “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

Chuyện (124)Những người canh giữ vườn xoài dâng xoài. Các vị ngần ngại không nhận, vì nghĩ: “Các người chủ bảo họ canh giữ các vật này chớ không bảo dâng các vật này.”⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này các tỳ khưu, trong việc bố thí của người giữ vườn thì không phạm tội.”

Chuyện (148)Gia đình hộ độ của Tôn giả Pilindavaccha bị cướp, hai đứa trẻ bị bắt đi. Tôn giả dùng thần thông đưa hai đứa trẻ về. Các Tỳ-khưu chê trách: sao lại đem về những đứa trẻ đã bị bọn cướp bắt đi?⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này các tỳ khưu, trong lãnh vực về thần thông vị có thần thông thì vô tội.”

Chuyện (150)Ở Sāgalā, một đệ tử của Tôn giả Daḷhika buồn chán đời tu, lấy trộm khăn đội đầu của chủ tiệm rồi thưa thầy: “Thưa ngài, tôi không phải là Sa-môn, tôi sẽ hoàn tục.”⚖️ Tôn giả xử thế nào?

Tôn giả bảo đem vật ấy lại và cho định giá: “vật ấy có giá trị không đến năm māsaka.”

chưa đủ mức“Này đại đức, không phạm tội pārājika.” Rồi vị ấy đã thuyết Pháp. Vị tỳ khưu ấy đã trở nên hoan hỷ.

Người thông Luật không kết luận vội: định giá trước, rồi dùng Pháp nâng đỡ người lỡ bước.

Chi phần · giá trị · cách “lấy” Bình giải · BMC

Tạng Luật tự tóm các yếu tố: “Vị lấy vật không được cho phạm tội pārājika do năm yếu tố: là vật thuộc về người khác; biết vật thuộc về người khác; là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội thullaccaya, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.”

Tạng Luật, Indacanda dịch

BMC triển khai thành năm chi phần dưới đây. Bấm từng chi để thử bỏ bớt:

Giá trị của vật quyết định mức tội

Từ 5 māsaka (1 pāda) trở lênpārājika
Mức tộiBất cộng trú — trộm “mà vua có thể xử phạt”.
Trên 1 đến dưới 5 māsakathullaccaya
Mức tộiTrọng tội (thâu-lan-giá), sám hối.
Từ 1 māsaka trở xuốngdukkaṭa
Mức tộiTác ác, sám hối.
🪙

Quy đổi ngày nay: Phụ chú giải Luật lấy 1 māsaka bằng 4 hạt lúa vàng, nên 5 māsaka bằng 20 hạt lúa vàng, khoảng 1/24 troy ounce vàng (≈ 1,3 g). BMC chọn cách tính này vì nó rõ ràng: trên mức ấy chắc chắn là pārājika; dưới mức ấy, khi còn nghi thì Luật luôn cho vị Tỳ-khưu hưởng sự nghi ngờ. Giá trị tính theo giá ở nơi và lúc xảy ra việc trộm.

Thế nào là “lấy”?

📦
Dời khỏi chỗ

Vật trên đất, treo trên móc, trong xe, trên thuyền… thành “lấy” khi bị dời khỏi chỗ cũ. Trộm cả xe thì dời xe là xong.

✊
Tách ra khỏi khối

Bốc một nắm trong đồ chứa, nhúng bình lấy chất lỏng, uống từ đồ chứa: thành “lấy” khi phần lấy đã tách khỏi phần còn lại.

🗣️
Sai bảo, trốn thuế

Bảo người khác lấy cũng phạm khi người kia lấy theo lời. Đem hàng qua trạm thuế mà trốn thuế: giá trị tính theo số thuế phải nộp.

🤝Lấy “do thân thiết” (vissāsa) — năm điều kiệnTạng Luật, Đại phẩm VIII.19.1

① Người chủ là người quen biết; ② là người thân thiết; ③ đã từng nói (cho phép lấy); ④ người ấy còn sống; ⑤ mình biết rằng người ấy sẽ hoan hỷ khi mình lấy.

Chú giải cho rằng thực tế chỉ cần điều ④, ⑤ và một trong ba điều đầu.

Theo The Buddhist Monastic Code I, chương 4

✓ Không phạm (Indacanda dịch)

“Tưởng là của mình, khi lấy do sự thân thiết, (mượn) trong thời hạn, thuộc về người chết, thuộc về loài thú, nghĩ là vật bị quăng bỏ, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

🗡️
PHẦN 4 · PĀRĀJIKA 3

Điều 3 · Giết người Manussaviggaha

Yo pana bhikkhu sañcicca manussaviggahaṃ jīvitā voropeyya, satthahārakaṃ vāssa pariyeseyya, maraṇavaṇṇaṃ vā saṃvaṇṇeyya, maraṇāya vā samādapeyya “ambho purisa, kiṃ tuyhiminā pāpakena dujjīvitena, mataṃ te jīvitā seyyo”ti, iti cittamano cittasaṅkappo anekapariyāyena maraṇavaṇṇaṃ vā saṃvaṇṇeyya, maraṇāya vā samādapeyya, ayampi pārājiko hoti asaṃvāso.
“Vị tỳ khưu nào cố ý đoạt lấy mạng sống con người, hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy, hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết, hoặc xúi giục đưa đến sự chết: ‘Này người ơi, còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống!’ Vị có tâm ý và có tâm tư như thế rồi bằng nhiều phương thức ca ngợi lợi ích của sự chết hoặc xúi giục đưa đến sự chết, vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Indacanda dịch · quy định lần thứ hai (bản cuối cùng)
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
sañciccacố ýtrạng từ
manussaviggahaṃcon người, chúng sinh mang hình ngườimanussa (người) + viggaha (hình dáng, thân)
jīvitā voropeyyatước đoạt khỏi mạng sốngjīvitā: xuất xứ cách — “khỏi mạng sống”
satthahārakaṃ vāssa pariyeseyyahoặc tìm kẻ cầm dao (sát thủ) cho người ấysattha (dao) + hāraka (người mang); vāssa = vā + assa (cho người ấy)
maraṇavaṇṇaṃ vā saṃvaṇṇeyyahoặc ca ngợi vẻ tốt đẹp của sự chếtvaṇṇa: vẻ đẹp, lời khen
maraṇāya vā samādapeyyahoặc xúi giục đi đến cái chếtmaraṇāya: dữ cách
ambho purisanày người ơiambho: thán từ
kiṃ tuyh’iminā pāpakena dujjīvitenacó ích gì cho ngươi cuộc sống xấu xa, khốn khổ nàydujjīvita: du (khổ, xấu) + jīvita
mataṃ te jīvitā seyyođối với ngươi, chết còn tốt hơn sốngjīvitā: xuất xứ cách so sánh với seyyo (tốt hơn)
iti cittamano cittasaṅkappovới tâm ý như thế, với ý định như thếsaṅkappa: ý định, chủ đích
anekapariyāyenabằng nhiều cáchaneka (nhiều) + pariyāya (cách thức)

Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.

Duyên sự Tạng Luật

Pháp quán tử thi ở Đại Lâm

Tại giảng đường Kūṭāgāra, Đại Lâm, Vesālī, Đức Phật giảng nhiều về đề mục tử thi rồi bảo:

“Này các tỳ khưu, Ta muốn thiền tịnh trong nửa tháng. Không ai đến gặp Ta ngoại trừ một vị mang lại vật thực.”

Các vị chuyên tu đề mục ấy “do nhiều động cơ khác nhau”, đến mức nhờm gớm thân mình “giống như người … còn trẻ, … vừa mới gội đầu … nhờm gớm với xác rắn, hoặc xác chó, hoặc thây người chết máng vào cổ”. Có vị tự sát, có vị giết lẫn nhau, có vị đến nhờ Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika, trả công bằng y bát.

Migalaṇḍika và vị thiên tùy tùng của Ma

Rửa thanh gươm đẫm máu bên sông Vaggumudā, Migalaṇḍika hối hận. Một vị thiên tùy tùng của Ma Vương hiện trên mặt nước, khen hắn “đã giải thoát cho những kẻ chưa được giải thoát”. Hắn bèn cầm gươm đi từng trú xá:

“Vị nào chưa giải thoát? Ta giải thoát cho vị nào đây?”

Có ngày hắn giết đến sáu mươi vị.

Định niệm hơi thở

Hết nửa tháng, Đức Phật hỏi Tôn giả Ānanda vì sao chúng Tăng như ít đi. Ngài cho tập họp các Tỳ-khưu, dạy định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, “cũng giống như cơn mưa lớn sái mùa vào tháng cuối của mùa nóng làm biến mất ngay lập tức và làm lắng xuống các bụi bặm đã bốc lên”. Rồi Ngài chế điều học lần thứ nhất:

“Vị tỳ khưu nào cố ý đoạt lấy mạng sống con người hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy; vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Nhóm Lục Sư và người cư sĩ bệnh

Muốn có được người vợ xinh đẹp của một cư sĩ đang bệnh, nhóm sáu vị đến khen ông:

“…vậy thì còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống vậy.”

Ông ăn uống những thứ không hợp rồi qua đời; người vợ tố cáo. Đức Phật thêm phần “ca ngợi lợi ích của sự chết, xúi giục đưa đến sự chết” (lần thứ hai).

📜Kinh Vesālī — Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra (SN 54.9)“…định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu…”

Lúc bấy giờ Thế Tôn dùng nhiều phương tiện giảng về bất tịnh, nêu rõ về bất tịnh, tán thán sự tu tập bất tịnh… Họ tủi hổ với thân này, tàm quý và nhàm chán, tầm cầu đem lại con dao. Mười Tỷ-kheo một ngày đem lại con dao … Hai mươi … Ba mươi Tỷ-kheo trong một ngày đem lại con dao. …

“—Này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong cuối mùa hạ, bụi nhớp bay lên và một đám mưa lớn trái mùa lập tức làm chúng biến mất, tịnh chỉ…”

Tương Ưng Bộ, Kinh Vesālī (SN 54.9) — HT. Thích Minh Châu dịch

Giảng đường ở Đại Lâm, Vesālī: Đức Phật dạy định niệm hơi thở

Phân tích từ ngữ Tạng Luật

Cố ýsañcicca
“…là sự vi phạm trong khi biết, trong khi có ý định, sau khi đã suy nghĩ, sau khi đã khẳng định.”
Con ngườimanussaviggaha
“…vật gì ở khoảng giữa thời gian từ lúc tâm đầu tiên được sanh lên (tức là) thức đầu tiên hiện hữu trong bụng mẹ cho đến lúc chết; vật ấy gọi là con người.”
Đoạt lấy mạng sốngjīvitā voropeti
“…cắt đứt mạng quyền, làm hủy hoại, làm tổn hại sự tiếp nối.”
Tìm cách đem lại vũ khísatthahārakaṃ pariyeseyya
“…là thanh gươm, là cây giáo, là mũi tên, là cọc nhọn, là dùi cui, là tảng đá, là cây kiếm, là thuốc độc, hoặc là dây thừng.”
Ca ngợi lợi ích của sự chếtmaraṇavaṇṇaṃ saṃvaṇṇeti
“…làm cho thấy được sự nguy hiểm trong sự sống và nói khen ngợi về sự chết.”
Xúi giục đưa đến sự chếtmaraṇāya samādapeti
“(Nói rằng): ‘Hãy mang lại cây kiếm, hoặc hãy nhai thuốc độc, hoặc hãy dùng dây thừng treo lên rồi chết đi.’”
Có tâm ý như thếiti cittamano
“Ý nào tâm nấy, tâm nào ý nấy.”

Tạng Luật kể ra rất nhiều cách gây chết, trong đó có:

tự mìnhbằng người đưa tinca ngợi bằng thânca ngợi bằng lời nóica ngợi bằng chữ khắccái hố đàosự trợ giúpviệc để bên cạnhdược phẩmsự đem lại cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc, phápsự chỉ bảosự dạy dỗhành động theo sự quy địnhhành động theo dấu hiệu

Lấy ví dụ cái hố đào để thấy mức tội đi theo kết quả và theo đối tượng:

Đào hố cho người“…‘Sau khi rơi xuống sẽ chết’ thì phạm tội dukkaṭa.”
Người rơi xuống, đau đớn“…cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya.”
Người ấy chết“(vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.”
Phi nhân · thú chết“Dạ-xoa, ngạ quỷ… chết đi thì phạm tội thullaccaya.” — “(con thú) chết đi thì phạm tội pācittiya.”

Các trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật

📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · Bất cộng trú 3Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 84 câu xử tội

Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.

Đoạn 8

  • So với cuộc sống của những người có tài sản, cuộc sống của những người không có tài sản là tội lỗi.
  • So với cuộc sống của chư Thiên, cuộc sống của loài người là tội lỗi.
  • Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như tảng đá lớn bị bể làm hai không thể gắn liền lại được, tương tợ như thế vị tỳ khưu cố ý đoạt lấy mạng sống con người thì không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế được gọi là ‘vị phạm tội pārājika.’ Không được cộng trú: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú.pārājika

Đoạn 4

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết người ấy rồi đoạt lấy mạng sống của người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 5

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết người ấy rồi đoạt lấy mạng sống của người khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.vô tộipārājika

Đoạn 6

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết người khác rồi đoạt lấy mạng sống của người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 7

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia nhận biết người khác rồi đoạt lấy mạng sống của người khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.vô tộipārājika

Đoạn 8

  • Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị (nào) nói cho vị khác thì vị (nói) ấy phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị giết người (D) đồng ý thì vị khởi xướng (A) phạm tội thullaccaya; vị ấy (D) đoạt lấy mạng sống của người ấy thì tất cả đều phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 9

  • Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị ấy (B) chỉ thị vị khác (D) thì vị ấy (B) phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị giết người (D) đồng ý thì vị ấy (D) phạm tội dukkaṭa; vị ấy (D) đoạt lấy mạng sống của người ấy thì vị khởi xướng (A) vô tội, vị truyền chỉ thị (B) và vị giết người (D) phạm tội pārājika.dukkaṭavô tộipārājika

Đoạn 10

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị ấy lại chỉ thị thêm: “Khi nào ngươi có thể thì khi ấy ngươi hãy đoạt lấy mạng sống người ấy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Vị kia đoạt lấy mạng sống người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 11

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận nhưng không nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.”
  • Vị kia đoạt lấy mạng sống người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.pārājika

Đoạn 12

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.”
  • Vị kia (đáp lại rằng): “Tôi đã được ngài chỉ thị” rồi đoạt lấy mạng sống người ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.vô tộipārājika

Đoạn 13

  • Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.”
  • Vị kia (đáp lại rằng): “Tốt thôi” rồi ngưng lại thì cả hai vô tội.vô tội

Đoạn 14

  • Hiện diện, nghĩ là không hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Không hiện diện, nghĩ là hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Hiện diện, nghĩ là hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Không hiện diện, nghĩ là không hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa

Đoạn 15

  • Ca ngợi bằng thân nghĩa là làm cử chỉ bằng thân rằng: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 16

  • Ca ngợi bằng lời nói nghĩa là nói ra bằng lời nói rằng: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 17

  • Ca ngợi bằng thân và bằng lời nói nghĩa là làm cử chỉ bằng thân và nói ra bằng lời nói rằng: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 18

  • Ca ngợi bằng người đưa tin nghĩa là nói ra lời chỉ dẫn cho người đưa tin: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nghe lời chỉ dẫn của người đưa tin, (vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 19

  • Ca ngợi bằng chữ khắc nghĩa là khắc chữ: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa với mỗi mẫu tự.dukkaṭa
  • (Vị kia) sau khi nhìn thấy chữ khắc (nghĩ rằng): “Ta sẽ chết” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 20

  • Cái hố đào nghĩa là đào cái hố dành cho người (nghĩ rằng): “Sau khi rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • Đào cái hố không có chỉ định (nghĩ rằng): “Bất cứ ai rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • (Nếu) con người rơi vào đó thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Nếu) Dạ-xoa, ngạ quỷ, hoặc thú có dạng người rơi vào đó thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho kẻ ấy) thì phạm tội dukkaṭa; (kẻ ấy) chết đi thì phạm tội thullaccaya.dukkaṭathullaccaya
  • (Nếu) con thú rơi vào đó thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho con thú) thì phạm tội dukkaṭa; (con thú) chết đi thì phạm tội pācittiya.dukkaṭapācittiya

Đoạn 21

  • Sự trợ giúp nghĩa là trong sự trợ giúp vị đặt vũ khí, hoặc thoa thuốc độc, hoặc làm cho yếu đi, hoặc đem để ở chỗ khe nứt hay ở hố sâu hoặc nơi vực thẳm (nghĩ rằng): “Với việc này, sau khi rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Do vũ khí, hoặc do thuốc độc, hoặc do bị rơi xuống khiến cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 22

  • Việc để bên cạnh nghĩa là đem lại gần bên hoặc là thanh gươm, hay là cây giáo, hoặc là mũi tên, hay là cọc nhọn, hoặc là dùi cui, hay là tảng đá, hoặc là cây kiếm, hay là thuốc độc, hoặc là dây thừng (nghĩ rằng): “(Người ấy) sẽ chết bằng vật này” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết bằng vật ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 23

  • Dược phẩm nghĩa là cho bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật, hoặc đường mía (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vật này sẽ bị chết” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Khi đang nếm vật ấy, cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 24

  • Sự đem lại cảnh sắc nghĩa là đem lại cảnh sắc trái ý, dễ sợ, khủng khiếp (nghĩ rằng): “Sau khi nhìn thấy cảnh sắc này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nhìn thấy cảnh sắc ấy, (vị kia) bị hoảng hốt thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Vị) đem lại cảnh sắc hợp ý, dễ thương, đáng yêu (nghĩ rằng): “Sau khi nhìn thấy cảnh sắc này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nhìn thấy cảnh sắc ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 25

  • Sự đem lại cảnh thinh nghĩa là đem lại cảnh thinh trái ý, dễ sợ, khủng khiếp (nghĩ rằng): “Sau khi nghe được âm thanh này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nghe được âm thanh ấy, (vị kia) bị hoảng hốt thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Vị) đem lại cảnh thinh hợp ý, dễ thương, đáng yêu (nghĩ rằng): “Sau khi nghe được âm thanh này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nghe được âm thanh ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 26

  • Sự đem lại cảnh khí nghĩa là đem lại cảnh khí trái ý, ghê tởm, khó chịu (nghĩ rằng): “Sau khi ngửi mùi này, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (người ấy) sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi ngửi mùi ấy, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (vị kia) có cảm thọ khổ sanh khởi thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Vị) đem lại cảnh khí hợp ý (nghĩ rằng): “Sau khi ngửi mùi này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi ngửi mùi ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 27

  • Sự đem lại cảnh vị nghĩa là đem lại cảnh vị trái ý, ghê tởm, khó chịu (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vị này, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (người ấy) sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nếm vị ấy, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (vị kia) có cảm thọ khổ sanh khởi thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Vị) đem lại cảnh vị hợp ý (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vị này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nếm vị ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 28

  • Sự đem lại cảnh xúc nghĩa là đem lại cảnh xúc trái ý, gây đau đớn, thô cứng (nghĩ rằng): “Đụng chạm vào vật này (người ấy) sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Khi (vị kia) đụng chạm vật ấy, cảm thọ khổ sanh khởi thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Vị) đem lại cảnh xúc hợp ý, gây khoái lạc, mềm mại (nghĩ rằng): “Đụng chạm vào vật này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Khi đụng chạm vật ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 29

  • Sự đem lại cảnh pháp nghĩa là thuyết bài giảng về địa ngục của người đi địa ngục (nghĩ rằng): “Sau khi nghe điều này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nghe được điều ấy, (vị kia) bị hoảng hốt thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika
  • (Vị) thuyết bài giảng về cõi trời của nghiệp lành (nghĩ rằng): “Sau khi nghe điều này (người ấy) sẽ bị tác động rồi chết đi” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • Sau khi nghe được điều ấy, (vị kia) bị tác động (nghĩ rằng): “Ta sẽ chết” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 30

  • Sự chỉ bảo nghĩa là khi được hỏi, vị nói rằng: “Nên chết như vầy, người nào chết như vầy người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách chỉ bảo ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 31

  • Sự dạy dỗ nghĩa là khi không được hỏi, vị nói rằng: “Nên chết như vầy, người nào chết như vầy người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
  • (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách dạy dỗ ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.thullaccayapārājika

Đoạn 32

  • Hành động theo sự quy định nghĩa là lập nên sự quy định rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người ấy vào giờ hẹn ấy, hoặc là trước bữa ăn, hoặc là sau bữa ăn, hoặc là ban đêm, hoặc là ban ngày” thì phạm tội dukkaṭa; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy vào giờ hẹn ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy trước hay sau giờ hẹn ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.dukkaṭapārājikavô tội

Đoạn 33

  • Hành động theo dấu hiệu nghĩa là lập nên dấu hiệu rằng: “Tôi sẽ nháy mắt, hoặc là tôi sẽ nhướng mày, hoặc là tôi sẽ ngẩng đầu lên, ngươi hãy đoạt lấy mạng sống người ấy theo dấu hiệu ấy” thì phạm tội dukkaṭa; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy theo dấu hiệu ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy trước hay sau dấu hiệu ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.dukkaṭapārājikavô tội

Đoạn 34

  • Vị không cố ý, vị không biết, vị không có ý muốn gây tử vong, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội

Chuyện dẫn giải Tạng Luật

Chuyện (1)“Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu vì lòng trắc ẩn đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi.”⚖️ Đức Phật phán?

pārājika“Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.”

Lòng thương không làm thay đổi tội. Đây là căn cứ để Luật không chấp nhận việc khuyên người bệnh chết cho “nhẹ nhàng”.
Chuyện (5)–(7)Hai cha con cùng xuất gia. Nghe báo giờ họp, người con nói: “Thưa cha, hãy đi. Hội chúng chờ đợi cha,” rồi đẩy lưng cha; người cha té xuống. Tạng Luật xét ba trường hợp: không có ý giết và cha chết · có ý giết và cha chết · có ý giết mà cha không chết.⚖️ Đức Phật phán?

vô tộiKhông có ý giết, cha chết: “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.”

pārājikaCó ý giết, cha chết: “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

thullaccayaCó ý giết, cha không chết: “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”

Chuyện (8)Một vị đang ăn bị nghẹn miếng thịt. Vị khác vỗ vào cổ; cục thịt rơi ra có dính máu, và vị bị nghẹn chết.⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.”

Chuyện (12)Một vị muốn thử nghiệm nên đưa thuốc độc cho vị khác. Vị kia chết.⚖️ Đức Phật phán?

thullaccaya“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”

Không có ý giết nên không thành pārājika, nhưng đùa với mạng người là trọng tội.
Chuyện (2)Một vị đi khất thực ngồi xuống ghế, đè lên đứa bé trai đang được phủ tấm màn, làm đứa bé chết.⚖️ Đức Phật phán?

không pārājika“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika.”

dukkaṭa“…khi chưa xem xét không nên ngồi xuống ở chỗ ngồi; vị nào ngồi xuống thì phạm tội dukkaṭa.”

Chuyện (31)Một vị buồn chán, leo lên đỉnh Gijjhakūṭa lao mình xuống vực, rơi trúng một người đan giỏ làm người ấy chết (còn vị ấy sống).⚖️ Đức Phật phán?

không pārājika“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika.”

dukkaṭa“…không nên lao mình xuống; vị nào lao xuống thì phạm tội dukkaṭa.”

Chuyện (65)Một phụ nữ mang thai nhờ vị Tỳ-khưu thường lui tới nhà: “Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm sẩy thai đi.” Vị ấy chỉ cách; cô làm theo và sẩy thai.⚖️ Đức Phật phán?

pārājika“Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

Vì “con người” tính từ thức đầu tiên trong bụng mẹ.
Chuyện (88)Một vị thuyết về cõi trời của người làm lành. Người nghe xúc động quá mà chết.⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.”

Nếu vị ấy thuyết với ý muốn người kia chết thì Tạng Luật xử khác hẳn (chuyện 89–90).
Chuyện (100)–(101)Ở pháp trường, một vị nói với người đao phủ: “Này đạo hữu, chớ để người này bị khổ sở. Hãy đoạt lấy mạng sống bằng một nhát.” Người đao phủ làm theo. Ở lần khác, đao phủ đáp: “Tôi sẽ không làm theo lời nói của ngài” rồi tự ý xử tử.⚖️ Đức Phật phán?

pārājikaKhi đao phủ làm theo lời: “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

dukkaṭaKhi đao phủ không làm theo lời: “…không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.”

Chuyện (102)Một người bị chặt tay chân nằm giữa thân quyến. Một vị hỏi: “Các vị có muốn cái chết cho người này không?” — “Thưa ngài, đúng vậy.” — “Như thế thì hãy cho uống sữa còn bơ.” Người ấy uống và chết.⚖️ Đức Phật phán?

pārājika“Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

Năm chi phần Bình giải · BMC

Bấm từng chi để thử bỏ bớt:

🩺

BMC lưu ý hai điều áp dụng ngày nay: vì “con người” bắt đầu từ thức đầu tiên trong bụng mẹ, vị Tỳ-khưu khuyên, chỉ cách hay đưa thuốc phá thai mà thai chết thì phạm điều này; và khi chăm sóc người bệnh, nếu cố ý làm cho người ấy chết mà người ấy chết thì cũng phạm. Giết loài thú thuộc Ưng đối trị 61.

✓ Không phạm (Indacanda dịch)

“Vị không cố ý, vị không biết, vị không có ý muốn gây tử vong, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

🗣️
PHẦN 5 · PĀRĀJIKA 4

Điều 4 · Khoe pháp thượng nhân Uttarimanussadhamma

Yo pana bhikkhu anabhijānaṃ uttarimanussadhammaṃ attupanāyikaṃ alamariyañāṇadassanaṃ samudācareyya “iti jānāmi, iti passāmī”ti, tato aparena samayena samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vā āpanno visuddhāpekkho evaṃ vadeyya “ajānamevaṃ āvuso avacaṃ jānāmi, apassaṃ passāmi, tucchaṃ musā vilapin”ti, aññatra adhimānā, ayampi pārājiko hoti asaṃvāso.
“Vị tỳ khưu nào trong khi chưa biết rõ về pháp thượng nhân, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết của bậc Thánh, lại tuyên bố rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó vào lúc khác, trong khi được hỏi hay trong khi không được hỏi, vị đã phạm tội có ước muốn được trong sạch lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá,’ ngoại trừ vì sự tự tin thái quá; vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Indacanda dịch · quy định lần thứ hai (bản cuối cùng)
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
anabhijānaṃtrong khi không biết rõ (không thực chứng)an + abhijānaṃ: hiện tại phân từ
uttarimanussadhammaṃpháp thượng nhân — pháp vượt hơn người thườnguttari (vượt lên) + manussa (người) + dhamma (pháp)
attūpanāyikaṃliên quan đến bản thân, gán cho mìnhattā (tự thân) + upanāyika
alamariyañāṇadassanaṃtri kiến xứng đáng bậc Thánhalaṃ (xứng đáng) + ariya (bậc Thánh) + ñāṇadassana (biết và thấy)
samudācareyya “iti jānāmi, iti passāmī”tự nhận: “Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy”samudācareyya: tuyên bố, tự nhận (Horner dịch: khoe khoang)
tato aparena samayenarồi vào một lúc khác
samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vādù bị gạn hỏi hay không bị gạn hỏibị động, hiện tại phân từ của samanuggāhati
āpanno visuddhāpekkhođã phạm (tội), mong được thanh tịnh
ajānam … avacaṃ “jānāmi”, apassaṃ “passāmi”dù không biết, tôi đã nói “tôi biết”; không thấy, tôi đã nói “tôi thấy”avacaṃ: thể quá khứ, ngôi 1 của vadati
tucchaṃ musā vilapiṃtôi đã nói khoác một cách rỗng tuếch, dối trávilapiṃ: tôi đã huênh hoang, bốc phét
aññatra adhimānāngoại trừ do tăng thượng mạn (tự tin thái quá)aññatra + xuất xứ cách; adhi (quá mức) + māna (mạn)

Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.

Duyên sự Tạng Luật

Mùa đói ở xứ Vajjī — ba đề nghị

Các vị an cư bên bờ sông Vaggumudā bàn cách sống qua mùa đói. Có vị đề nghị làm công cho người tại gia, có vị đề nghị đưa tin tức cho họ. Cuối cùng cả nhóm chọn cách thứ ba:

“…chúng ta hãy nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia rằng: ‘Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, … vị tỳ khưu như vầy là vị A-la-hán…’”
Được cúng dường đầy đủ

Dân chúng tin theo, dâng những vật thực “mà họ không ăn bởi chính mình, không dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con”. Mãn mùa, chư Tăng các nơi đến yết kiến Đức Phật đều “ốm o, cằn cỗi, xuống sắc”, riêng các vị ở Vaggumudā thì “có sắc tướng, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ”.

Đức Phật hỏi“— Này các tỳ khưu, các ngươi có thực chứng không?
— Bạch Thế Tôn, không thực chứng.”

Ngài khiển trách, giảng về năm kẻ cướp lớn, rồi chế điều học lần thứ nhất.

Các vị tự tin thái quá

Có những vị “trong khi không thấy tưởng là đã thấy, … trong khi không chứng ngộ tưởng là đã chứng ngộ” nên nói ra; về sau tâm lại thiên về tham, sân, si, mới sinh nghi. Đức Phật dạy: “điều ấy vốn không thuộc về trường hợp này”, và thêm cụm từ “ngoại trừ vì sự tự tin thái quá” (lần thứ hai).

“Này những kẻ rồ dại, thà các ngươi bị mổ banh bụng bởi dao giết trâu sắc bén còn là điều cao thượng, chớ vì lý do bao tử mà nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia là không (cao thượng).”Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Tỳ-khưu Indacanda dịch
Bờ sông Vaggumudā trong mùa đói kém ở xứ Vajjī

Năm kẻ cướp lớn ở đời

Sau lời khiển trách, Đức Phật so sánh năm hạng ác Tỳ-khưu với năm kẻ cướp lớn:

  1. Như tướng cướp dẫn trăm, ngàn người đi giết chóc khắp nơi, ác Tỳ-khưu dẫn trăm, ngàn tùy tùng đi khắp làng mạc phố thị để được cung kính, cúng dường, lợi lộc.
  2. Ác Tỳ-khưu học Pháp và Luật do Như Lai công bố rồi xem là của chính mình.
  3. Ác Tỳ-khưu bôi nhọ vị đang sống phạm hạnh thanh tịnh bằng điều phi phạm hạnh không có nguyên cớ.
  4. Ác Tỳ-khưu đem trọng vật của Tăng (tu viện, trú xá, giường ghế, đồ đồng…) mua chuộc người tại gia.
  5. Kẻ cướp lớn đứng hàng đầu: “kẻ khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng. Điều ấy có lý do thế nào? Này các tỳ khưu, các ngươi đã ăn thức ăn của xứ sở theo lối trộm cướp.”

Lời dạy ấy khép lại bằng ba khổ kệ; hai khổ sau chính là kệ Pháp Cú 307–308:

Vị tuyên bố thế này, bản thân như thế khác,ăn cơm kiểu dối lường, như cờ gian bạc lận.

Nhiều kẻ cổ quấn y, ác pháp, không thu thúc,kẻ ác vì nghiệp ác, phải sanh vào địa ngục.1

Kẻ ác giới buông lung thà ăn vào sắt cục,cháy đỏ có lửa ngọn, hơn đồ ăn xứ sở.2

1 Kinh Pháp Cú, câu 307.2 Kinh Pháp Cú, câu 308.Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
Kinh Pháp Cú 307–308 · HT. Thích Minh Châu dịch

307Nhiều người khoác cà sa,
Ác hạnh không nhiếp phục.
Người ác, do ác hạnh,
Phải sanh cõi Địa ngục.

308Tốt hơn nuốt hòn sắt
Cháy đỏ như than hồng,
Hơn ác giới, buông lung
Ăn đồ ăn quốc độ.

Phân tích từ ngữ Tạng Luật

Trong khi chưa biết rõanabhijānaṃ
“…là không có, không thực chứng, trong khi không tự biết, trong khi không hiểu, trong khi không thấy thiện pháp ở nơi mình (lại nói): ‘Tôi có thiện pháp.’”
Pháp thượng nhânuttarimanussadhamma
“…thiền, sự giải thoát, định, sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự chứng ngộ về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.”
Là pháp thể nhập của bản thânattupanāyika
“…hoặc là thể nhập các thiện pháp ấy vào bản thân, hoặc là thể nhập bản thân vào các thiện pháp ấy.”
Tuyên bốsamudācareyya
“…vị nói ra đến người nữ, hoặc đến người nam, hoặc đến người tại gia, hoặc đến vị xuất gia.”
Trong khi được hỏisamanuggāhīyamāno
“Điều gì đã được đại đức đắc chứng? Được đại đức đắc chứng như thế nào? Được đại đức đắc chứng vào lúc nào? Được đại đức đắc chứng ở đâu? Các phiền não nào đã được đại đức dứt bỏ? Đại đức đã đạt được các pháp nào?”
Vị đã phạm tội, có ước muốn được trong sạchāpanno visuddhāpekkho
“…vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng thì phạm tội pārājika. Có ước muốn được trong sạch: hoặc là có ước muốn trở thành người gia chủ, hoặc là có ước muốn trở thành nam cư sĩ, … hoặc là có ước muốn trở thành vị sa di.”

Tạng Luật giải rộng từng pháp thượng nhân:

🧘 Thiền: sơ thiền… tứ thiền🕊️ Giải thoát: vô phiền não, vô tướng, vô nguyện🎯 Định🌀 Sự chứng đạt👁️ Trí tuệ và sự thấy biết: ba Minh🛤️ Tu tập về Đạo: 37 phẩm trợ bồ-đề🏆 Chứng ngộ bốn Quả🔥 Dứt bỏ tham, sân, si☁️ Tâm không còn bị che lấp🌲 Thỏa thích nơi thanh vắng với bốn thiền

Lời nói dối thành tội khi có đủ các yếu tố: “Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: ‘Tôi đã chứng sơ thiền’ bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’”

Tạng Luật còn nêu đến bảy yếu tố, thêm: “đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.”

Tạng Luật, Indacanda dịch

Các trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật

📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · Bất cộng trú 4Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 89 câu xử tội

Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.

Đoạn 16

  • Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
  • Điều gì là sự thấy biết điều ấy là trí tuệ.
  • Vị đã phạm tội: vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng thì phạm tội pārājika.pārājika
  • Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy: Tôi không biết các pháp này, tôi không thấy các pháp này, các pháp này có ở tôi, các pháp này được thuần thục ở tôi, và tôi thuần thục trong các pháp này.
  • Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ở ngọn không thể tăng trưởng được nữa, tương tợ như thế vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, khi đã khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng, thì không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế, được gọi là ‘vị phạm tội pārājika.’ Không được cộng trú: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú.pārājika

Đoạn 1

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’pārājika

Đoạn 2

  • Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.pārājika

Đoạn 3

  • Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.pārājika

Đoạn 4

  • Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.pārājika

Đoạn 5

  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 6

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’pārājika

Đoạn 7

  • Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.pārājika

Đoạn 8

  • Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.pārājika

Đoạn 9

  • Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.pārājika

Đoạn 10

  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 11

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’pārājika

Đoạn 12

  • Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.pārājika

Đoạn 13

  • Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.pārājika

Đoạn 14

  • Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.pārājika

Đoạn 15

  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 16

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’pārājika

Đoạn 17

  • Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.pārājika

Đoạn 18

  • Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.pārājika

Đoạn 19

  • Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.pārājika

Đoạn 20

  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 21

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’pārājika

Đoạn 22

  • Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.pārājika

Đoạn 23

  • Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.pārājika

Đoạn 24

  • Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.pārājika

Đoạn 25

  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 26

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’pārājika

Đoạn 27

  • Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.pārājika

Đoạn 28

  • Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.pārājika

Đoạn 29

  • Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.pārājika

Đoạn 30

  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika
  • (Phần sơ thiền này đã được giải chi tiết như thế nào, toàn bộ nên được giải chi tiết như thế).

Đoạn 31

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền ... tam thiền ... tứ thiền ... Tôi có đạt tứ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ tứ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 32

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được vô phiền não giải thoát ... vô tướng giải thoát ... vô nguyện giải thoát ... Tôi có đạt vô nguyện giải thoát ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 33

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được vô phiền não định ... vô tướng định ... vô nguyện định ... Tôi có đạt vô nguyện định ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ vô nguyện định” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 34

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sự chứng đạt về vô phiền não ... sự chứng đạt về vô tướng ... sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có đạt sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 35

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được ba Minh, ... Tôi có đạt ba Minh ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ ba Minh” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 36

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được bốn sự thiết lập niệm ... bốn chánh cần ... bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có đạt bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 37

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được năm quyền ... năm lực ... Tôi có đạt năm lực ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ năm lực” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 38

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được bảy giác chi ... Tôi có đạt bảy giác chi ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ bảy giác chi” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 39

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có đạt Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 40

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được quả Nhập Lưu ... quả Nhất Lai ... quả Bất Lai ... phẩm vị A-la-hán ... Tôi có đạt phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 41

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ tham ái, đã quăng bỏ tham ái, đã thoát khỏi tham ái, đã dứt bỏ tham ái, đã xa rời tham ái, đã khai trừ tham ái, đã đoạn trừ tham ái” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 42

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ sân, đã quăng bỏ sân, đã thoát khỏi sân, đã dứt bỏ sân, đã xa rời sân, đã khai trừ sân, đã đoạn trừ sân” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 43

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ si, đã quăng bỏ si, đã thoát khỏi si, đã dứt bỏ si, đã xa rời si, đã khai trừ si, đã đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 44

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 45

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 46

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’pārājika

Đoạn 47

  • Với bốn yếu tố … Với năm yếu tố … Với sáu yếu tố … Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 1

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và nhị thiền, ... Tôi có đạt sơ thiền và nhị thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và nhị thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 2

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và tam thiền, ... Tôi có đạt sơ thiền và tam thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và tam thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 3

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và tứ thiền, ... Tôi có đạt sơ thiền và tứ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và tứ thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 4

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và vô phiền não giải thoát ... sơ thiền và vô tướng giải thoát ... sơ thiền và vô nguyện giải thoát ... Tôi có đạt sơ thiền và vô nguyện giải thoát ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 5

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và vô phiền não định ... sơ thiền và vô tướng định ... sơ thiền và vô nguyện định ... Tôi có đạt sơ thiền và vô nguyện định ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và vô nguyện định” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 6

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và sự chứng đạt về vô phiền não ... sơ thiền và sự chứng đạt về vô tướng ... sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có đạt sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 7

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và ba Minh ... Tôi có đạt sơ thiền và ba Minh ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và ba Minh” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 8

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và bốn sự thiết lập niệm ... sơ thiền và bốn chánh cần ... sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có đạt sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 9

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và năm quyền ... sơ thiền và năm lực ... Tôi có đạt sơ thiền và năm lực ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và năm lực” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 10

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và bảy giác chi ... Tôi có đạt sơ thiền và bảy giác chi ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và bảy giác chi” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 11

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có đạt sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 12

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và quả Nhập Lưu ... sơ thiền và quả Nhất Lai ... sơ thiền và quả Bất Lai ... sơ thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có đạt sơ thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... tôi đã chứng ngộ sơ thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 13

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền ... Tôi có đạt sơ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền ... và tôi đã từ bỏ tham ái ... và tôi đã từ bỏ sân ... và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 14

  • Với ba yếu tố ...
  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền ... Tôi có đạt sơ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 1

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và tam thiền ... Tôi có đạt nhị thiền và tam thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và tam thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 2

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và tứ thiền ... Tôi có đạt nhị thiền và tứ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và tứ thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 3

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và vô phiền não giải thoát ... và vô tướng giải thoát ... và vô nguyện giải thoát ... và vô phiền não định ... và vô tướng định ... và vô nguyện định ... và sự chứng đạt về vô phiền não ... và sự chứng đạt về vô tướng ... và sự chứng đạt về vô nguyện ... và ba Minh ... và bốn sự thiết lập niệm ... và bốn chánh cần ... và bốn nền tảng của thần thông ... và năm quyền ... và năm lực ... và bảy giác chi ... và Thánh Đạo tám chi phần ... và quả Nhập Lưu ... và quả Nhất Lai ... và quả Bất Lai ... và phẩm vị A- la-hán … Tôi có đạt nhị thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 4

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền ... Tôi có đạt nhị thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền ... và tôi đã từ bỏ tham ái ... và tôi đã từ bỏ sân ... và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 5

  • Với ba yếu tố ...
  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và sơ thiền ... Tôi có đạt nhị thiền và sơ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và sơ thiền” bị phạm tội pārājika … Sự luân phiên kết hợp.pārājika

Đoạn 1

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được tam thiền và tứ thiền ... ... tam thiền và phẩm vị A-la- hán ... Tôi có đạt tam thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ tam thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 2

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được tam thiền ... Tôi có đạt tam thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ tam thiền ... và tôi đã từ bỏ tham ái ... và tôi đã từ bỏ sân ... và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 3

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được tam thiền và sơ thiền ... tam thiền và nhị thiền ... Tôi có đạt tam thiền và nhị thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và sơ thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 4

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được sơ thiền ... nhị thiền ... tam thiền ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt tứ thiền ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ tứ thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 5

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được vô phiền não giải thoát, ... vô tướng giải thoát, ... vô nguyện giải thoát ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt vô nguyện giải thoát ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 6

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được vô phiền não định, vô tướng định, và vô nguyện định ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt vô nguyện định ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ vô nguyện định” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 7

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt sự chứng đạt về vô nguyện ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 8

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được ba Minh ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt ba Minh ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ ba Minh” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 9

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt bốn nền tảng của thần thông ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 10

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được năm quyền ... năm lực ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt năm lực ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ năm lực” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 11

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được bảy giác chi ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt bảy giác chi ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ bảy giác chi” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 12

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được Thánh Đạo tám chi phần ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt Thánh Đạo tám chi phần ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 13

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt phẩm vị A-la-hán ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 14

  • Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được sơ thiền ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt sơ thiền ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika …pārājika

Đoạn 15

  • Với ba yếu tố ...
  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng nhị thiền ... tam thiền ... tứ thiền ... vô phiền não giải thoát ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” bị phạm tội pārājika: ...pārājika

Đoạn 1

  • Với ba yếu tố ...
  • Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện, ba Minh, bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán, … Tôi đã từ bỏ tham ái, tôi đã từ bỏ sân, tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: … Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājika

Đoạn 1

  • Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng nhị thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.pārājikathullaccaya

Đoạn 2

  • Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng tam thiền ... tứ thiền ... vô phiền não giải thoát ... vô tướng giải thoát ... vô nguyện giải thoát ... vô phiền não định ... vô tướng định ... vô nguyện định ... sự chứng đạt về vô phiền não ... sự chứng đạt về vô tướng ... sự chứng đạt về vô nguyện ... ba Minh ... bốn sự thiết lập niệm ... bốn chánh cần ... bốn nền tảng của thần thông ... năm quyền ... năm lực ... bảy giác chi ... Thánh Đạo tám chi phần ... quả Nhập Lưu ... quả Nhất Lai ... quả Bất Lai ... phẩm vị A-la-hán ... Tôi đã từ bỏ tham ái ... Tôi đã từ bỏ sân ... Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.pārājikathullaccaya

Đoạn 1

  • Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng tam thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.pārājikathullaccaya

Đoạn 2

  • Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.pārājikathullaccaya

Đoạn 3

  • Với ba yếu tố ...
  • Với bảy yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya … đã che giấu ý định.pārājikathullaccaya

Chuyện dẫn giải Tạng Luật

Chuyện (1)“Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ do sự tự tin thái quá đã nói về trí giải thoát.”⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này tỳ khưu, do sự tự tin thái quá thì vô tội.”

Chuyện (2)–(9)Một vị ở trong rừng, một vị đi khất thực, có vị đi kinh hành, đứng, ngồi, nằm… “sau khi đã mong mỏi rằng: ‘Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!’” Dân chúng kính trọng thật.⚖️ Đức Phật phán?

không pārājika“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika.”

dukkaṭa“…không nên cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi; vị nào cư ngụ thì phạm tội dukkaṭa.”

Không nói lời nào, nhưng dùng oai nghi để “quảng cáo” mình thì vẫn bị chế tội nhẹ.
Chuyện (13)Một vị nói với người cư sĩ: “Này đạo hữu, vị tỳ khưu sống trong trú xá của đạo hữu là vị A-la-hán.” Mà chính vị ấy đang sống trong trú xá đó, với ý khoe khoang.⚖️ Đức Phật phán?

thullaccaya“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”

Chú thích của Indacanda: “Vị ấy vì chưa đề cập rõ ràng bản thân là A-la-hán … nên không phạm tội pārājika (VinA. ii, 503).”
Chuyện (11)Một vị đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Một vị biết được tâm người khác bảo: “Này đại đức, chớ có nói như thế. Điều ấy đại đức không có.”⚖️ Đức Phật phán?

dukkaṭa“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.”

Không có ai nghe để hiểu lời khoe, nên chưa thành pārājika.
Chuyện (15) · (17)Một vị bệnh được hỏi có pháp thượng nhân không, đáp: “Này các đại đức, không phải là việc khó để nói lên trí giải thoát.” Một vị bệnh khác được khuyên đừng sợ, đáp: “Này các đại đức, tôi không sợ hãi thần chết.”⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.”

Chuyện (24)Một người Bà-la-môn thỉnh các Tỳ-khưu: “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy ngự đến.” Các vị băn khoăn vì mình chưa phải A-la-hán.⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.”

Chuyện (35)Nhiều vị an cư ở một trú xứ, giao hẹn: “Vị nào sẽ rời trú xứ này trước tiên, chúng ta sẽ biết vị ấy là ‘vị A-la-hán.’” Một vị muốn được xem là A-la-hán nên rời đi trước tiên.⚖️ Đức Phật phán?

pārājika“Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”

Không cần nói thành lời: một hành động theo dấu hiệu đã giao hẹn cũng là tuyên bố.
Chuyện (36)Từ núi Gijjhakūṭa đi xuống, Tôn giả Mahāmoggallāna mỉm cười. Trước Đức Phật, Tôn giả kể đã thấy “bộ xương đang đi trong hư không”, bị kên kên, quạ, ưng rứt xé, rên rỉ khổ sở. Các Tỳ-khưu chê trách: Tôn giả khoe pháp thượng nhân.⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với mắt thấy như thật! … Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.”

Điều này cấm khoe điều không có. (Nói thật về pháp mình chứng với người chưa thọ Cụ túc thì thuộc Ưng đối trị 8.)
Chuyện (60)Tôn giả Sobhita nói: “Này các đại đức, tôi nhớ được năm trăm kiếp.” Các Tỳ-khưu chê trách là khoe pháp thượng nhân.⚖️ Đức Phật phán?

vô tội“…Sobhita đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Sobhita không phạm tội.”

Bốn chi phần Bình giải · BMC

Bấm từng chi để thử bỏ bớt:

💡

Các vị ở sông Vaggumudā khen nhau, chứ không tự khen mình. Theo BMC, trường hợp ấy không thuộc điều này (vốn nói về việc gán pháp thượng nhân cho chính mình) mà thuộc tội nói dối, Ưng đối trị 1.

📜Tội nhẹ hơn và các trường hợp đặc biệtTheo The Buddhist Monastic Code I, chương 4

• Nói ngầm, không trực tiếp nói về mình (ví dụ: “các vị ở tu viện này đều là A-la-hán”): thullaccaya nếu biết hàm ý của lời mình, dukkaṭa nếu không.

• Nói dối một mình, không có người nghe: dukkaṭa.

• Sống trong rừng, giữ hạnh đầu đà… cốt để được người khác kính trọng: dukkaṭa.

• Nói thật về pháp thượng nhân của mình với người chưa thọ Cụ túc: Ưng đối trị 8 (học ở bài sau).

• Được người có đức tin mời “xin các bậc A-la-hán ngồi”, chỉ nhận lời mời mà không có ý tự nhận: không phạm.

Theo The Buddhist Monastic Code I, chương 4 (Ṭhānissaro Bhikkhu)

✓ Không phạm (Indacanda dịch)

“Vì sự tự tin thái quá, vị không có ý định khoác lác, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

🛟
PHẦN 6

Không phạm · tội nhẹ hơn

Luật rất cẩn trọng: chỉ khi hội đủ mọi chi phần mới thành tội bất cộng trú. Thiếu một chi phần thì có thể không phạm, hoặc chỉ phạm tội nhẹ hơn.

Bốn trường hợp được miễn chung

🌀
Vị bị điênummattaka

Theo Chú giải, đó là người mất hết nhận thức đúng, không còn biết hổ thẹn, không phân biệt được lửa với vàng, phân với gỗ trầm. Chỉ được miễn trong lúc tâm loạn, không miễn trong lúc tỉnh táo.

💫
Vị có tâm bị rối loạnkhittacitta

BMC hiểu là bị phi nhân nhập. Cũng chỉ được miễn trong lúc mất tự chủ.

🤕
Vị bị thọ khổ hành hạvedanāṭṭa

Đau đớn đến mức không biết mình đang làm gì.

1️⃣
Vị vi phạm đầu tiênādikammika

Người có hành vi khiến Đức Phật chế điều học (như Tỳ-khưu Sudinna), chỉ được miễn cho chính lần ấy.

Bảng tổng hợp

ĐiềuChi phầnKhông phạm riêngTội nhẹ hơn (ví dụ)
1 · Hành dâmhành động · đối tượng · biết · ưng thuậnkhông biết · không ưng thuậntử thi đã phân hủy: thullaccaya; vật vô tri: dukkaṭa
2 · Trộm cắpđối tượng · nhận thức · ý định · lấy (+ giá trị)tưởng là của mình · thân thiết · mượn tạm · của người chết · của loài thú · tưởng là vật bỏtrên 1 đến dưới 5 māsaka: thullaccaya; từ 1 māsaka trở xuống: dukkaṭa
3 · Giết ngườiđối tượng · nhận thức · ý định · hành động · kết quảkhông cố ý · không biết · không muốn gây chếtkhông chết mà đau: thullaccaya; giết phi nhân: thullaccaya
4 · Pháp thượng nhânđối tượng · nhận thức · nói ra · ý định (ác dục)tự tin thái quá · không có ý khoác lácnói ngầm, biết hàm ý: thullaccaya; nói một mình: dukkaṭa
⚖️
PHẦN 7

Hậu quả · cách xử lý · thử phán xét

Yesaṃ bhikkhu aññataraṃ vā aññataraṃ vā āpajjitvā na labhati bhikkhūhi saddhiṃ saṃvāsaṃ, yathā pure, tathā pacchā, pārājiko hoti asaṃvāso.Phạm bất cứ điều nào trong bốn điều ấy, vị Tỳ-khưu không còn được sống chung với các Tỳ-khưu. Trước thế nào, sau thế ấy: vị ấy bị đánh bại, không được cộng trú.Giới bổn Pātimokkha, phần kết bốn điều pārājika
⛔
Mất tư cách ngay khi phạm

Không cần nghi thức xả giới. Dù còn mặc y, vị ấy không còn là Tỳ-khưu; khi sự việc được biết, Tăng phải trục xuất.

🚪
Không thể thọ Cụ túc lại trong đời này

Nếu giấu tội để thọ giới ở nơi khác thì sự thọ giới không thành. Chú giải cho phép xuất gia làm Sa-di, nhưng không phải truyền thống nào cũng chấp nhận.

📖
Không biết không phải là lý do miễn tội

Vì vậy Đức Phật dạy phải giảng bốn điều không được làm cho vị tân Tỳ-khưu ngay sau khi thọ Cụ túc (Đại phẩm I.78).

🙏
Nghi mình phạm: trình ngay bậc thông Luật

Vị thông Luật phải xem xét kỹ càng, với lòng bi mẫn, và cho vị kia hưởng sự nghi ngờ: chưa đủ chứng cứ thì chưa kết tội.

🗣️
Thấy người khác phạm mà không nhận

Các Tỳ-khưu có bổn phận nêu ra; việc xét xử theo thủ tục của Tăng (học ở các bài sau).

🧵Chuyện tấm vải ở Tích LanMột bài học về sự cẩn trọng khi xét tội pārājika (Chú giải điều 2)

Trong một đại lễ ở ngôi tháp lớn, một vị Tỳ-khưu từ phương Nam đánh rơi tấm vải quý giữa đám đông, tìm không được nên đành bỏ. Một vị Tỳ-khưu thường trú nhặt được, khởi ý trộm và cất đi. Về sau vị ấy ân hận, đến vị thông Luật xin nhận tội pārājika và hoàn tục.

Vị thông Luật không cho hoàn tục ngay, mà bảo đi tìm người chủ. Sau một thời gian dài, người chủ cho biết lúc ấy đã buông bỏ hẳn tấm vải. Như vậy tấm vải đã là vật vô chủ: vị kia không phạm pārājika, chỉ phạm các tội dukkaṭa do những cố gắng ban đầu với ý trộm.

Theo The Buddhist Monastic Code I, chương 4

⚖️ Thử phán xét — 10 tình huống

Chọn mức tội cho từng tình huống. Các tình huống dựa trên những trường hợp được phân tích trong Tạng Luật và BMC; trong thực tế, mỗi trường hợp cụ thể cần được bậc thông Luật xem xét.

🌬️
PHẦN 8

Giữ mình

Bốn điều học này không chỉ là ranh giới cấm. Duyên sự của mỗi điều cho thấy gốc rễ trong tâm, và lời dạy đi kèm chỉ ra cách bảo vệ tâm ấy.

👁️
Thu thúc lục căn

Gốc của điều 1 là dục ái. Canh giữ sáu căn, không nắm giữ tướng chung, tướng riêng (Bài 1, Phần 4), là hàng rào từ xa.

🥣
Ít muốn, biết đủ

Gốc của điều 2 và điều 4 là lòng tham vật dụng, tham lợi đắc. Người biết đủ với tứ vật dụng thì không phải “vì lý do bao tử” mà làm điều sai.

🌬️
Định niệm hơi thở

Sau sự kiện ở Đại Lâm, Đức Phật dạy định niệm hơi thở: “làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức” (SN 54.9).

📖
Học kỹ từ đầu

Thuộc lòng bốn điều cùng các chi phần ngay khi mới thọ giới. Khi không còn muốn tu, hãy xả giới đàng hoàng.

☸️
KẾT LUẬN

Bốn ranh giới của đời phạm hạnh

Hành dâm, trộm cắp, giết người và khoe pháp thượng nhân không có thật là bốn việc làm hỏng tận gốc đời sống xuất gia. Giới luật xử lý chúng nghiêm khắc nhất, nhưng cũng cẩn trọng nhất: mỗi điều đều có chi phần rõ ràng, có trường hợp miễn trừ, và người xét xử phải cho vị Tỳ-khưu hưởng sự nghi ngờ.

🌿

Bài sau sẽ học 13 điều Tăng tàn (Saṅghādisesa): nhóm tội nặng thứ hai, vẫn còn đường phục hồi nhờ Tăng.

✍️
ÔN TẬP

Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm

Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật

Trắc nghiệm 15 câu

✍️Bài tập Bài 2 — 112 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →
📚
NGUỒN

Tài liệu tham khảo

  • Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Pārājikapāḷi & Phân Tích Giới Tỳ-khưu I, Chương Pārājika: duyên sự, phân tích từ ngữ, chuyện dẫn giải, tamtangpaliviet.net.
  • Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code I, chương 4 “Pārājika” (bản sửa 2025), dhammatalks.org — phần bình giải.
  • Giới bổn Pātimokkha, bản Pāli Mahāsaṅgīti và bản dịch Anh của Bhikkhu Brahmali, SuttaCentral.
  • HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Vesālī (SN 54.9).
  • Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation, Buddhist Publication Society, Kandy, 2014 — giải nghĩa từng chữ Pāli.

📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

📝 Phần chính của bài trích nguyên văn Tạng Luật bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda; phần bình giải theo The Buddhist Monastic Code của Ṭhānissaro Bhikkhu (được phép sao chép để phát không); giải nghĩa từng chữ Pāli theo Bhikkhu Ñāṇatusita. Phần trình bày, sơ đồ, tình huống và câu hỏi do trang Thừa Tự Pháp biên soạn. Đây là tài liệu học tập; khi gặp trường hợp cụ thể, xin hỏi chư Tăng thông Luật.