Đức Phật ngồi thiền dưới cội Bồ-đề
NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSAKính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
Thừa Tự Pháp
VINAYAHọc Giới Luật Tỳ-khưu · Nam tông
NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSAKính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
Đức Phật ngồi thiền dưới cội Bồ-đề

Hãy nhìn Đức Thế Tôn, giữ tâm có niệm, hít thở thật sâu trước khi học bài hôm nay.

BÀI 16 · CÁC THIÊN

Uposatha, An cư, Tự tứ, Kaṭhina

Những sinh hoạt định kỳ của Tăng: mỗi nửa tháng tụng giới bổn; mỗi năm ba tháng an cư mùa mưa; cuối mùa thỉnh cầu nhau chỉ lỗi; rồi lễ dâng y Kaṭhina. Theo Chương Uposatha, Chương Vào mùa mưa, Chương Pavāraṇā (Đại Phẩm I) và Chương Kaṭhina (Đại Phẩm II).

⏱ khoảng 60 phút🧭 8 phần📜 nguyên văn Tạng Luật🌕 13 thẻ quy định⚖️ 10 tình huống phán xét
🎯 Học xong bài này, bạn sẽ:
  • Biết nguồn gốc và cách làm lễ Uposatha theo số vị Tỳ-khưu.
  • Biết thời điểm, quy tắc và ngoại lệ của mùa an cư.
  • Hiểu ý nghĩa và cách thỉnh cầu trong lễ Pavāraṇā.
  • Nắm năm điều được phép, cách thành tựu và sự hết hiệu lực của Kaṭhina.
Đêm rằm: chư Tăng hòa hợp nghe tụng giới bổn
🗺️
TOÀN CẢNH

Sơ đồ tóm tắt bài học

Bốn sinh hoạt định kỳ của Tăng. Bấm vào một ô để đi tới phần đó.

🧭
PHẦN 1

Toàn cảnh

Trong ranh giới đã ấn định (Bài 15), Tăng gặp nhau đều đặn: mỗi nửa tháng làm Uposatha; mỗi năm an cư ba tháng mùa mưa, khép lại bằng lễ Pavāraṇā, rồi trong tháng sau đó làm lễ Kaṭhina.

Sinh hoạtKhi nàoChương (bản Indacanda)
🌕 Uposathangày 14 hoặc 15 mỗi nửa thángĐại Phẩm I, Chương II: Chương Uposatha
🌧️ An cư mùa mưaba tháng, từ ngày sau rằm Āsāḷha (thời điểm trước) hoặc một tháng sau (thời điểm sau)Đại Phẩm I, Chương III: Chương Vào mùa mưa
🙏 Pavāraṇāngày 14 hoặc 15 cuối mùa an cư, thay cho một lễ UposathaĐại Phẩm I, Chương IV: Chương Pavāraṇā
🧵 Kaṭhinatrong tháng thứ tư mùa mưa, tức tháng sau khi mãn an cư thời điểm trước (BMC theo Tập Yếu)Đại Phẩm II, Chương VII: Chương Kaṭhina

Mỗi thẻ trích nguyên văn Tạng Luật bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda, kèm bản Pāli Mahāsaṅgīti (SuttaCentral); phần bình giải theo The Buddhist Monastic Code II (Ṭhānissaro Bhikkhu), các chương Uposatha, Rains-residence, Invitation, Kaṭhina. Theo chú thích của Indacanda, thời điểm vào an cư trước tương ứng ngày 16 tháng 6 âm lịch Việt Nam (năm không nhuần).

🌕
PHẦN 2

Lễ Uposatha

Vì sao Đức Phật giao việc tụng giới bổn cho Tăng? Tạng Luật

  1. Một ngày Uposatha ở tu viện Pubba, Ngài Ānanda ba lần thỉnh Đức Phật tụng giới bổn, lúc canh một, canh giữa, rồi đến khi bình minh đã rạng. Đức Phật dạy: “Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.”
  2. Ngài Mahāmoggallāna quán tâm toàn thể hội chúng, thấy một kẻ ác giới đang ngồi giữa chúng, ba lần bảo: “Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Ngươi không được cộng trú với các tỳ khưu.” Kẻ ấy im lặng, Ngài nắm tay đưa ra ngoài cổng.
  3. Đức Phật dạy tám pháp kỳ diệu của biển cả và của Pháp và Luật (bảng dưới).
  4. Từ đó Ngài giao cho Tăng: “…kể từ nay về sau ta sẽ không tiến hành lễ Uposatha, sẽ không tuyên đọc giới bổn. Chính các ngươi, giờ đây kể từ nay về sau các ngươi có thể tiến hành lễ Uposatha, có thể tụng đọc giới bổn Pātimokkha.”
  5. Và quy định: “…vị phạm tội không nên nghe giới bổn Pātimokkha; vị nào nghe thì phạm tội dukkaṭa.” Vị phạm tội mà vẫn nghe thì Tăng được phép đình chỉ giới bổn của vị ấy.
#Biển cảPháp và Luật
1sâu xuống dần dần, không có vực sâu đột ngộthọc tập, thực hành, tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột
2có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờđệ tử không vượt qua điều học đã quy định, dù vì mạng sống
3không sống chung với xác chếthội chúng không sống chung với kẻ ác giới, tức thời tụ hội loại trừ kẻ ấy ra
4các sông lớn đến biển thì bỏ tên cũbốn giai cấp xuất gia thì bỏ tên cũ, gọi là “Các Sa-môn Thích tử”
5không vì nước đổ vào mà vơi hay đầynhiều vị vào Vô Dư Niết Bàn, Niết Bàn không vơi không đầy
6một vị: vị của muốimột vị: “…Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát.”
7nhiều vật quýbốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần… Thánh đạo tám ngành
8nơi cư trú của các chúng sanh to lớnnơi cư trú của các bậc Nhập Lưu… A-la-hán và các vị đang thực hành để chứng các quả ấy

Nguồn: Tạng Luật, Tiểu Phẩm II, Chương IX: Chương Đình chỉ giới bổn Pātimokkha — Tỳ-khưu Indacanda dịch. HT. Hộ Pháp kể lại chuyện này trong Gương Bậc Xuất Gia (mục “Thỉnh Đức Phật thuyết Pātimokkha” và “Tám điều kỳ lạ trong đại dương”). Ngay cả bậc A-la-hán cũng phải dự Uposatha: xem chuyện Ngài Mahākappina ở Kết luận.

👥
PHẦN 3

Uposatha theo số vị, gửi sự trong sạch, năm cách tụng

Uposatha tùy theo số vị Tỳ-khưu có mặt
  1. Bốn vị trở lên: một vị tụng giới bổn Pātimokkha, chư Tăng lắng nghe.
  2. Ba vị: một vị đọc lời đề nghị, rồi từng vị bày tỏ sự trong sạch của mình.
  3. Hai vị: bày tỏ sự trong sạch với nhau, không cần lời đề nghị.
  4. Một vị: “…nên quét khu vực ấy, nên đem lại nước uống, nước rửa, nên sắp đặt chỗ ngồi, nên thắp sáng đèn, rồi nên ngồi xuống…” Không ai đến thì chú nguyện: “Hôm nay là lễ Uposatha của tôi”.
🌧️
PHẦN 4

Vào mùa mưa

⚠️
PHẦN 5

Chướng ngại khi an cư

🙏
PHẦN 6

Lễ Pavāraṇā (Tự tứ)

🧵
PHẦN 7

Kaṭhina

Kaṭhina là gì? Bình giải · BMC

Kaṭhinakaṭhina
Tên gọi lấy từ cái khung căng vải dùng để may y thời Đức Phật. Nay không bắt buộc phải dùng khung; chữ Kaṭhina được dùng theo nghĩa bóng, chỉ khoảng thời gian các điều được phép (có được nhờ may y) còn hiệu lực.
Nghĩa “vững chắc”thira
Hai bộ Phụ chú Vimativinodanī và Vajirabuddhi định nghĩa: Kathinan’ti pañcānisaṃse antokaraṇasamatthatāya thiranti attho. Tỳ-khưu Hộ Pháp dịch: Kathina nghĩa là “vững chắc”, bởi vì có khả năng làm cho năm quả báu (năm điều được phép) được duy trì suốt năm tháng, từ 16 tháng 9 đến rằm tháng 2 âm lịch.
Thành tựu Kaṭhinakaṭhinatthāra
Nghĩa đen là “trải khung ra”. Vị được trao vải may xong y, tuyên bố thành tựu Kaṭhina, các vị khác tùy hỷ; từ đó các điều được phép bắt đầu.
Kaṭhina hết hiệu lựcubbhāra
Nghĩa đen là “tháo khung, cuộn lại”: các điều được phép chấm dứt (xem Phần 8).
Vải Kaṭhinakaṭhinadussa
Vải thí chủ dâng đến Tăng để thành tựu Kaṭhina. Lời đề nghị trong Tạng Luật mở đầu: “Vải Kaṭhina này đã được phát sanh đến hội chúng.”
  1. Tóm lược: thí chủ dâng vải cho một Tăng ít nhất năm vị; Tăng trao vải cho một vị; với sự giúp đỡ của Tăng, vị ấy may xong y trước rạng đông hôm sau, rồi tuyên bố thành tựu Kaṭhina, các vị khác tùy hỷ. Vị thành tựu và các vị tùy hỷ được năm điều được phép, có thể kéo dài đến hết mùa lạnh, năm tháng sau khi mãn an cư.
  2. Thời gian: Tạng Luật chỉ nói Kaṭhina dành cho các vị đã sống qua mùa an cư; Tập Yếu (Parivāra) thêm: phải làm trong tháng thứ tư mùa mưa, tức tháng đầu sau khi mãn an cư thời điểm trước. Truyền thống “mỗi trú xứ một năm chỉ một lễ Kaṭhina” không được văn bản nào nói rõ.
  3. Mục đích: theo Chú giải, (1) để các vị đi đường trong thời gian này khỏi phải mang theo đủ ba y, (2) theo truyền thống của chư Phật quá khứ. BMC thêm: Kaṭhina khuyến khích an cư trọn vẹn, cùng nhau làm việc, vị lớn truyền nghề may y cho vị nhỏ, và gắn bó với trú xứ cùng các thí chủ.

Duyên sự: ba mươi vị Tỳ-khưu xứ Pāvā Tạng Luật

Ba mươi vị giữ hạnh đầu đà

Lúc đức Phật ngự tại Jetavana, Sāvatthi:

“…các tỳ khưu xứ Pāvā có số lượng là ba mươi, tất cả là các vị chuyên ngụ ở rừng, tất cả là các vị chuyên đi khất thực, tất cả là các vị mặc y may từ vải dơ bị quăng bỏ, tất cả là các vị chỉ sử dụng ba y.”

Các vị lên đường đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.

Kẹt lại ở Sāketa“…do việc vào mùa (an cư) mưa đã đến gần nên các vị đã không thể thành tựu việc vào mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi. Các vị đã vào mùa (an cư) mưa ở Sāketa, vào khoảng giữa lộ trình.”

Ba tháng ấy các vị buồn bã:

“Đức Thế Tôn ngự rất gần chúng ta cách đây chỉ sáu do tuần, vậy mà chúng ta không được diện kiến đức Thế Tôn.”
Lội mưa bùn đến Jetavana“…khi đã thực hiện lễ Pavāraṇā, trong lúc trời còn đang mưa, trong khi có sự gom tụ nước lại thành vũng bùn lầy, các vị tỳ khưu ấy với các y bị đẫm nước và có dáng điệu mệt mỏi đã đi đến thành Sāvatthi…”
Đức Phật thăm hỏi“Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đã sống qua mùa (an cư) mưa có được thoải mái, có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau không? Và các ngươi có không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực không?”

Các vị thưa lại mọi việc, kể cả chuyến đi đường xa với y đẫm nước.

Đức Phật cho phép Kaṭhina

Ngài nói Pháp thoại rồi dạy:

“Này các tỳ khưu, ta cho phép thành tựu Kaṭhina đến các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa.”

Ngài kể năm điều được phép (xem bảng bên dưới) và dạy cách Tăng trao vải Kaṭhina cho một vị.

BMC: Tạng Luật không nói rõ vì sao Đức Phật đặt ra Kaṭhina; câu chuyện chỉ cho thấy Ngài cho phép khi các vị đến với y đẫm nước, sau mùa an cư mà trời vẫn còn mưa.

Theo sách của Tỳ-khưu Hộ Pháp: ba mươi vị xứ Pāvā (Pāveyya) đều là bậc Thánh hữu học, vốn là ba mươi hoàng tử cùng cha với vua Pasenadi Kosala; nghe đức Phật thuyết pháp, các vị đều chứng quả A-ra-hán. Sự kiện xảy ra sau hạ thứ 14 của đức Phật, năm Ngài an cư tại Jetavana; từ đó lễ dâng y Kathina trở thành truyền thống.

Ai được dâng, ai được nhận, ai được hưởng Bình giải · BMC

✅ Được❌ Không được
Người dâng vảiBất cứ ai. Chú giải (Tỳ-khưu Hộ Pháp dẫn): Yena kenaci devena vā manussena vā pañcannaṃ vā sahadhammikānaṃ aññatarena dinnaṃ vaṭṭati, nghĩa là chư thiên, loài người, hoặc một trong năm hạng đồng phạm hạnh (Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni) dâng đều được. Vậy một vị Tỳ-khưu cũng được dâng y Kathina. BMC lưu ý thêm: người dâng không được là thành viên của chính Tăng nhận vải, vì Tăng ấy không được làm gì để có vải.Vải có được do vị Tỳ-khưu gợi ý hoặc giảng giải về Kaṭhina rồi kêu gọi (Tạng Luật, trường hợp 13–14 bên dưới).
Tăng nhận vảiTăng ít nhất năm vị: bốn vị làm hành sự trao vải và một vị nhận (BMC, theo Chương Campā).Dưới năm vị thì không làm được hành sự trao vải.
Vị được trao vải (vị thành tựu Kaṭhina)Vị đã sống qua mùa an cư trọn vẹn (Tạng Luật). Tập Yếu: vị thông tám điều: việc làm trước, xả y cũ, chú nguyện y mới, tuyên bố thành tựu, tám tiêu đề hết hiệu lực, hai điều vướng bận, hành sự thu hồi, các điều được phép. Chú giải: chọn vị có y đã cũ; trong số ấy chọn vị cao hạ có khả năng làm xong trong ngày; nếu vị cao hạ không làm nổi mà vị nhỏ hạ làm được thì Tăng có thể trao cho vị nhỏ hạ.Vị chưa sống qua mùa an cư, vị bị đứt hạ.
Vị được hưởng năm điềuVị thành tựu Kaṭhina và các vị tùy hỷ đứng trong ranh giới, đã an cư trọn vẹn. Chú giải: sa-di an cư thời điểm trước rồi thọ cụ túc trong thời an cư sau cũng được tính và được hưởng.Vị tùy hỷ đứng ngoài ranh giới (Tạng Luật). Vị đứt hạ (BMC). Theo Chú giải: vị an cư thời điểm sau (được tính vào túc số nhưng không được hưởng); vị được thỉnh từ nơi khác đến chỉ để đọc tuyên ngôn; vị an cư ở trú xứ khác (BMC ghi Tạng Luật không cấm điều này).
Phần y của Tăng nơi đã an cưCác vị đã an cư ở trú xứ ấy (điều được phép thứ năm).Vị an cư ở nơi khác. Chuyện Upananda: “Này các tỳ khưu, vị sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác không nên chấp nhận phần y ở nơi khác; vị nào chấp nhận thì phạm tội dukkaṭa.”

BMC theo Tạng Luật khi Chú giải khác Tạng Luật, nhưng ghi lại ý Chú giải vì nhiều nơi vẫn làm theo Chú giải.

Dâng y thường và dâng y Kathina khác nhau thế nào? Tỳ-khưu Hộ Pháp

Dâng y thườngDâng y Kathina
Thời gianBất cứ tháng nào, ngày nào, không hạn định.Chỉ từ 16 tháng 9 đến rằm tháng 10 âm lịch; mỗi chùa chỉ thọ y Kathina một lần, trong một ngày.
Nơi dângChùa, rừng núi, hang động, nhà thí chủ…, bao nhiêu lần cũng được.Nơi chư Tăng đã an cư trọn ba tháng mùa mưa.
Người nhậnDâng riêng cá nhân (pāṭipuggalikadāna) hay dâng Tăng (saṅghikadāna) đều được.Chỉ dâng đến Tăng, không dâng riêng vị nào.
Xin yTỳ-khưu được xin cha mẹ, thân quyến hay thí chủ đã thỉnh mời trước.Không được xin trực tiếp hay gián tiếp, dù là mẹ mình; y phải đến “ví như từ trên hư không rơi xuống”.
Tấm yMọi loại y: ba y, y tắm mưa, y phụ…Chỉ một trong ba y: y hai lớp, thượng y hoặc y nội; các y dâng kèm gọi là y phát sinh trong lễ Kathina.

Trình tự tổ chức buổi lễ Kaṭhina Bình giải · BMC

Tạng Luật chỉ ghi lời trao vải và các điều kiện thành tựu; các bước cụ thể dưới đây theo BMC, dựa vào Tập Yếu (Parivāra) và Chú giải. Bấm từng bước để xem chi tiết.

1Định ngày

Tạng Luật: Kaṭhina dành cho các vị đã sống qua mùa an cư. Tập Yếu: phải làm trong tháng thứ tư mùa mưa, tức tháng đầu sau khi mãn an cư thời điểm trước. Y phải được cắt, may xong ngay trong ngày nhận vải, trước rạng đông hôm sau.

2Thí chủ tự ý dâng vải

Vải có thể là vải mới, vải được xem như mới, vải cũ, vải phấn tảo, vải tiệm: “Kaṭhina được thành tựu với (vải) mới (chưa được sử dụng). Kaṭhina được thành tựu với (vải) được xem như mới. Kaṭhina được thành tựu với vải áo choàng cũ. Kaṭhina được thành tựu với vải dơ bị quăng bỏ. Kaṭhina được thành tựu với vải đã được bỏ ở trước cửa tiệm, có người nhặt lấy rồi đem dâng.” Không được là vải mượn, vải tích trữ, vải phải xả bỏ.

Chư Tăng không được gợi ý hay giảng giải kêu gọi để có vải. Chú giải: không được xin vải Kaṭhina dù với chính mẹ mình; vải phải đến “như từ trên trời rơi xuống”. Nhưng nếu thí chủ đã quyết định dâng mà hỏi cách dâng thì được chỉ: dâng lúc mặt trời còn trên trời, vải đủ may một trong ba y, nói “Chúng tôi dâng vải Kaṭhina”, kèm kim chỉ, thuốc nhuộm, cháo và vật thực cho chư Tăng làm y.

3Tăng chọn vị nhận vải

Vị ấy phải đã an cư trọn vẹn. Tập Yếu: vị thông tám điều (việc làm trước, xả y cũ, chú nguyện y mới, tuyên bố thành tựu, tám tiêu đề hết hiệu lực, hai vướng bận, hành sự thu hồi, các điều được phép). Chú giải: chọn vị có y đã cũ; trong số ấy chọn vị cao hạ có khả năng làm xong trong ngày. BMC: vì cả Tăng đều phải giúp may, cách tốt là thưa với vị cao hạ: “Xin ngài nhận vải, chúng tôi sẽ lo cho xong.”

Tỳ-khưu Hộ Pháp dẫn Chú giải: Yo idha jiṇṇacīvaro, tassa dadeyya (vị nào có y cũ, y rách thì trao cho vị ấy); nếu không có thì Tena hi vuḍḍhassa dadeyya (trao cho vị cao hạ). Vị Đại Trưởng Lão không nhận thì trao cho vị kế tiếp theo thứ tự hạ. Tám chi pháp (Tập Yếu): biết việc làm ban đầu (đo, cắt, may, nhuộm), biết cách xả y cũ (paccuddhāra), biết cách nguyện y mới (adhiṭṭhāna), biết cách thọ Kathina (atthāra), biết tám tiêu đề hết hiệu lực (mātikā), biết hai vướng bận (palibodha), biết cách Tăng thâu hồi Kathina (uddhāra), biết năm điều được phép (ānisaṃsa).

4Tăng trao vải bằng hành sự

Tăng ít nhất năm vị (bốn vị làm hành sự và một vị nhận). Một vị kinh nghiệm đọc lời đề nghị và tuyên ngôn (đề nghị đến lần thứ hai):

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vải Kaṭhina này đã được phát sanh đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vải Kaṭhina này đã được phát sanh đến hội chúng. Hội chúng trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Đại đức nào đồng ý việc trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Vải Kaṭhina này đã được hội chúng trao đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṃ saṅghassa kathinadussaṃ uppannaṃ. Yadi saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho imaṃ kathinadussaṃ itthannāmassa bhikkhuno dadeyya kathinaṃ attharituṃ. Esā ñatti. Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṃ saṅghassa kathinadussaṃ uppannaṃ. Saṅgho imaṃ kathinadussaṃ itthannāmassa bhikkhuno deti kathinaṃ attharituṃ. Yassāyasmato khamati imassa kathinadussassa itthannāmassa bhikkhuno dānaṃ kathinaṃ attharituṃ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya. Dinnaṃ idaṃ saṅghena kathinadussaṃ itthannāmassa bhikkhuno kathinaṃ attharituṃ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṃ dhārayāmī.

5Cả Tăng cùng may y trong ngày

Tập Yếu kể các việc làm trước: giặt, tính số điều, cắt, lược, may, nhuộm, làm thành được phép (Chú giải: làm dấu hoại y như Ưng đối trị 58). Y phải là y hai lớp, thượng y hoặc y nội, có từ năm điều trở lên. Chú giải: gom đủ chư Tăng cùng may, nhuộm, làm dấu và thành tựu ngay trong ngày; không vị nào được miễn vì cao hạ hay học rộng; nhuộm đủ số lần cho đúng màu. Chú giải khuyên may y thay cho y đã cũ nhất của vị nhận; BMC ghi thực tế người ta hay may y nội vì nhanh nhất.

Chú giải cho rằng thí chủ dâng y đã may sẵn cũng được; Vinayamukha phản đối, vì một mục đích của Kaṭhina là để chư Tăng cùng làm việc với nhau.

6Vị nhận vải thành tựu Kaṭhina

Tập Yếu: vị ấy xả chú nguyện y cũ cùng loại, chú nguyện y mới, rồi nói thành lời (chỉ nghĩ hay ra dấu thì không được):

Iminā antaravāsakena kaṭhinaṃ attharāmi.

Nghĩa là: tôi thành tựu Kaṭhina với y nội này. Nếu là thượng y thì nói Iminā uttarāsaṅgena…, nếu là y hai lớp thì nói Imāya saṅghāṭiyā…. Việc này do một cá nhân làm, không phải hành sự của Tăng.

7Báo cho Tăng và Tăng tùy hỷ

Vị ấy đắp thượng y một bên vai, chắp tay, đến trước Tăng nói:

Atthataṃ bhante saṅghassa kaṭhinaṃ. Dhammiko kaṭhinatthāro. Anumodatha.

Nghĩa là: bạch các ngài, Kaṭhina của Tăng đã được thành tựu; sự thành tựu Kaṭhina đúng Pháp; xin hãy tùy hỷ. Các vị (cũng đắp y một bên vai, chắp tay) đáp:

Atthataṃ bhante saṅghassa kaṭhinaṃ. Dhammiko kaṭhinatthāro. Anumodāma.

Nghĩa là: … chúng tôi tùy hỷ. Vị cao hạ hơn thì dùng bhante, nhỏ hạ hơn thì dùng āvuso. Tập Yếu cho phép báo riêng từng vị hay từng nhóm; với một vị thì nói Anumodasi, vị ấy đáp Anumodāmi. Vị tùy hỷ phải là Tỳ-khưu đã an cư trọn vẹn, đứng trong ranh giới và nói thành lời.

8Phẩm vật dâng kèm

Chú giải: nếu thí chủ nói phẩm vật kèm theo là dành cho vị nhận vải thì thuộc vị ấy; nếu không nói thì thuộc Tăng. Vị thành tựu Kaṭhina có y khác đã sờn thì, sau khi công bố với Tăng, được cấp đủ vải để thay; vải còn lại chia cho Tăng theo thứ tự hạ lạp. Vật nặng, quý giá (garubhaṇḍa) không được chia.

Nghi lễ dâng y và thọ y Kathina tại các chùa ngày nay Nghi lễ

Các bước trên là phần Luật. Khi tổ chức thành đại lễ, các chùa Nam tông còn có phần nghi lễ của thí chủ và của chư Tăng. Phần dưới đây theo sách Lễ Dâng Y Kathina của Tỳ-khưu Hộ Pháp (Dhammarakkhita, PL 2550), soạn “sưu tầm từ Tam Tạng Pāḷi và Chú Giải”; nghi thức của chư Tăng theo truyền thống Thái Lan mà Ngài ghi lại. Bấm từng bước để xem lời tụng.

Phần của thí chủ

1Rước y, nhiễu Phậtphong tục

Nhiều chùa Nam tông, nhất là các chùa Khmer ở Nam Bộ, rước y Kathina và nhiễu quanh chánh điện (thường ba vòng) trước khi vào lễ; có nơi rước quanh phum, sóc. Đây là phong tục, Tạng Luật không quy định và sách của Tỳ-khưu Hộ Pháp không ghi bước này; số vòng, cách rước tùy mỗi chùa, mỗi vùng.

2Lễ bái Tam Bảo, thọ Tam quy và giới

Các Phật tử lễ bái Tam Bảo, xin thọ trì Tam quy và năm giới hoặc tám giới, trước sự hiện diện của chư Tăng.

3Lời cảm tưởng

Một thí chủ thay mặt mọi người bạch với chư Tăng: Đức Phật xuất hiện trên đời là điều khó được, lễ dâng y Kathina cũng là dịp hiếm có; trong một năm chỉ có một tháng, tại chùa này chỉ có một ngày được làm lễ dâng y Kathina; tri ân chư Tăng đã an cư tại chùa và chư Tăng đến dự; rồi xin phép làm lễ dâng y.

4Lời dâng y Kathina

Người thí chủ thay mặt mọi người, hai tay nâng tấm y, hướng dẫn mọi người đồng thanh đọc:

Mayaṃ bhante, samasaddhā samachandā samacittā saṅgamma, Buddha, Dhamma, Saṅghañceva kammaṃ kammaphalañca saddahitvā, saṃsāravaṭṭadukkhato mocanatthāya, Nibbānassa sacchikaraṇatthāya, imaṃ saparivāraṃ kathinacīvaraṃ (tên chùa) bhikkhusaṅghassa sakkaccaṃ dema, kathinaṃ attharituṃ. Sādhu no bhante, bhikkhusaṅgho imaṃ saparivāraṃ kathinacīvaraṃ paṭiggaṇhātu, paṭiggaṇhitvā iminā kathinacīvarena kathinaṃ attharatu, amhākaṃ dīgharattaṃ atthāya, hitāya, sukhāya.

Ý nghĩa (theo bản dịch của Tỳ-khưu Hộ Pháp): Kính bạch chư Đại đức Tăng, tất cả chúng con có đồng đức tin, đồng nguyện vọng, đồng tâm trí, tin nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng, tin nghiệp và quả của nghiệp, mong chứng ngộ Niết Bàn để giải thoát khổ tử sinh luân hồi, nên thành kính dâng y Kathina cùng các thứ vật dụng này đến chư Tỳ-khưu Tăng đã an cư tại (tên chùa). Kính xin chư Tăng thọ nhận, thọ nhận xong xin làm lễ thọ y Kathina với tấm y này, để chúng con được lợi ích, tiến hóa, an lạc lâu dài.

Chư Tăng đồng thanh: Sādhu! Sādhu! Sādhu!

Tên chùa đọc theo cách Pāli, ví dụ “Viên Không araññe”, “Bửu Long ārāme”.

5Dâng y tận tay vị Trưởng lão

Một thí chủ thay mặt mọi người đem tấm y đến gần vị Đại Trưởng Lão, trong khoảng cách tầm tay (hatthapāsa, khoảng 1 mét), dâng tận tay. Vị ấy thay mặt chư Tăng thọ nhận rồi đem vào trình giữa chư Tăng.

Tỳ-khưu Hộ Pháp lưu ý: khi thí chủ chưa dâng, Tỳ-khưu không được cố ý đụng chạm tấm y Kathina, càng không được dời nó sang chỗ khác; nếu dời thì tấm y không còn hợp Luật để làm lễ thọ Kathina.

6Phát nguyện, hồi hướng

Idaṃ me kathinadānaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu.

(Nguyện phước dâng y Kathina này dẫn dắt con đến sự diệt tận các lậu hoặc.)

Idaṃ no ñātinaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.

(Nguyện phước này đến thân quyến chúng con; mong thân quyến được an lạc.)

Rồi chia phước đến cha mẹ, thầy tổ, thân quyến, bạn bè và tất cả chúng sinh; mọi người đồng nói ba lần: Sādhu! Sādhu! Anumodāma!

Phần của chư Tăng

1Tụ họp tại sīmā, thỉnh hai vị luật sư

Chư Tăng đã an cư tại chùa tụ họp tại sīmā (xem Bài 18), thỉnh hai vị luật sư hướng dẫn lễ trao y.

2Tường trình (apalokanakamma)

Vị luật sư thứ nhất trình với Tăng: y Kathina này của các thí chủ (nêu tên) đã phát sinh hoàn toàn trong sạch, “như từ trên hư không rơi xuống giữa chư Tỳ-khưu Tăng”, không dành riêng cho vị nào; Tăng nên chọn một vị biết đủ tám chi pháp, ưu tiên vị có y rách, y cũ, hoặc vị cao hạ nhất có giới đức trong sạch.

3Giới thiệu vị thọ y

Vị luật sư thứ hai đề cử một vị (ví dụ Đại đức Tissa); vị nào không chấp thuận thì phát biểu, nếu đồng ý thì Tăng đồng thanh: Sādhu! Sādhu! Sādhu! Vị luật sư thứ nhất nói rõ: việc trao y phải làm bằng hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, không phải chỉ bằng lời tường trình.

4Tụng lời trao y (ñattidutiyakammavācā)

Suṇātu me bhante saṅgho, idaṃ saṅghassa kathinacīvaraṃ uppannaṃ. Yadi saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho imaṃ kathinacīvaraṃ Tissassa bhikkhuno dadeyya kathinaṃ attharituṃ. Esā ñatti. Suṇātu me bhante saṅgho, idaṃ saṅghassa kathinacīvaraṃ uppannaṃ, saṅgho imaṃ kathinacīvaraṃ Tissassa bhikkhuno deti kathinaṃ attharituṃ. Yassāyasmato khamati, imassa kathinacīvarassa Tissassa bhikkhuno dānaṃ kathinaṃ attharituṃ, so tuṇhassa, yassa nakkhamati so bhāseyya. Dinnaṃ idaṃ saṅghena kathinacīvaraṃ Tissassa bhikkhuno kathinaṃ attharituṃ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṃ dhārayāmi.

Vì ngày nay thí chủ thường dâng y đã may sẵn, lời tụng dùng kathinacīvaraṃ (y Kathina) thay cho kathinadussaṃ (vải Kathina) trong Tạng Luật. Tụng xong, vị luật sư thay mặt Tăng trao y cho vị được chọn.

5Làm dấu, xả y cũ, nguyện y mới, thọ Kathina

Vị ấy chọn một trong ba y. Ví dụ với y hai lớp:

Kappabinduṃ karomi.

(Làm dấu hoại y: một vòng tròn nhỏ màu đen, xanh đậm hoặc xám đậm ở góc y.)

Imaṃ saṅghāṭiṃ paccuddharāmi.

(Tôi xin xả tấm y hai lớp cũ này.)

Imaṃ saṅghāṭiṃ adhiṭṭhāmi.

(Tôi xin nguyện tấm y hai lớp mới này.)

Imāya saṅghāṭiyā kathinaṃ attharāmi.

(Tôi xin làm lễ thọ Kathina với tấm y hai lớp này.) Với thượng y thì đọc uttarāsaṅgaṃ … Iminā uttarāsaṅgena…; với y nội: antaravāsakaṃ … Iminā antaravāsakena…

6Hoan hỷ (anumodanā)

Vị thọ y đắp y chừa vai phải, ngồi chồm hổm giữa chư Tăng, chắp tay thỉnh:

Atthataṃ āvuso (bhante) saṅghassa kathinaṃ, dhammiko kathinatthāro, anumodatha.

Chư Tăng đồng thanh:

Atthataṃ bhante (āvuso) saṅghassa kathinaṃ, dhammiko kathinatthāro, anumodāma.

Theo sách, các vị được nói lời hoan hỷ và hưởng năm điều là Tỳ-khưu đã an cư trọn ba tháng hạ trước và làm lễ Pavāraṇā; không được là vị đứt hạ, vị an cư hạ sau, vị an cư ở chùa khác đến dự, vị không nhập hạ. Sa-di không làm lễ thọ y, không nói lời hoan hỷ, nhưng được hưởng phần vật dụng phát sinh trong lễ.

Thời gian theo âm lịch (Tỳ-khưu Hộ Pháp): dâng y Kathina từ ngày 16 tháng 9 đến rằm tháng 10; Kathina thành tựu thì chư Tăng hưởng năm điều đến rằm tháng 2. Nguồn: Tỳ-khưu Hộ Pháp, Lễ Dâng Y Kathina (theravada.vn); phong tục nhiễu Phật theo tin của Báo Pháp Luật, Báo Văn Hóa.

Phước báu của người dâng y Kathina Tỳ-khưu Hộ Pháp

Theo sách của Tỳ-khưu Hộ Pháp, trong các phước bố thí vật dụng, dâng y Kathina là thù thắng hơn cả, vì:

  1. Tâm trong sạch: tấm y phát sinh hoàn toàn do đại thiện tâm hợp với trí của thí chủ, tự mình quyết định, không do vị Tỳ-khưu nào động viên khuyến khích.
  2. Hiếm có: chỉ có trong Phật giáo, và chỉ ở nơi có chư Tăng an cư trọn ba tháng.
  3. Đúng thời: một năm chỉ có một tháng; mỗi chùa chỉ thọ y Kathina một lần, trong một ngày.
  4. Dâng đến Tăng (saṅghikadāna), không dâng riêng cá nhân. Kinh Phân Biệt Cúng Dường: “…khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ānanda, Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.” (Trung Bộ 142, HT. Thích Minh Châu dịch)
  5. Đúng Luật: khi Tăng thọ y Kathina hợp pháp, chư Tăng được năm điều được phép, trong đó bốn điều giới tạm không phạm, đến rằm tháng 2.

Năm cách bố thí của bậc chân nhân

Ngài xếp lễ dâng y Kathina vào cách bố thí của bậc thiện trí (sappurisadāna), dẫn Kinh Bố Thí Xứng Bậc Chân Nhân:

“…Bố thí có lòng tin, bố thí có kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép, bố thí không làm thương tổn mình và người.”

Tăng Chi Bộ 5.148 — HT. Thích Minh Châu dịch
Cách bố thíPāliQuả dị thục đặc biệt (theo kinh)
Có lòng tinsaddhāgiàu sang, đẹp, dễ ngó, dung sắc thù thắng như hoa sen
Có kính trọngsakkaccacon cái, vợ, người làm đều vâng theo, lắng nghe
Đúng thờikālacác vật dụng đến với người ấy đúng thời và sung túc
Tâm không gượng épanuggahitacittahướng tâm thụ hưởng đầy đủ năm dục công đức
Không làm thương tổn mình và ngườianupahaccatài sản không gặp tai nạn từ lửa, nước, vua, trộm, kẻ thù, người thừa tự

Ngài viết thêm: Kathina nghĩa là “vững chắc”, nên quả báu của lễ dâng y Kathina cũng vững chắc, bền lâu: sống lâu, sắc đẹp, an lạc, sức mạnh, trí tuệ; tài sản không bị hủy hoại; và là duyên lành để đời sau dễ phát sinh đức tin, có thể được xuất gia theo lối đức Phật gọi “Hãy đến, này Tỳ-khưu” (Ehi bhikkhu).

Phước báu thù thắng: theo Ngài, người được đức Phật gọi “Ehi bhikkhu” trở thành Tỳ-khưu ngay khi Ngài dứt lời, có đủ tám vật dụng (ba y, bát, dây lưng, dao cạo, ống kim chỉ, đồ lọc nước) do phước báu mà thành (iddhimayapattacīvara). Đức Phật chỉ gọi như vậy với người đời trước từng dâng ba y, bát và vật dụng đến chư Tỳ-khưu và đã phát nguyện được xuất gia theo lối ấy; người không có phước ấy thì phải tự tìm đủ y bát trước khi xuất gia. Vì thế trong lễ dâng y Kathina, thí chủ thường phát nguyện như vậy.

Ngài cũng nêu ba yếu tố để phước bố thí được thành tựu: vật thí phát sinh hoàn toàn trong sạch; tác ý (cetanā) của thí chủ hoàn toàn trong sạch; bậc thọ thí có giới đức trong sạch.

Ngài cũng dẫn một bài kệ trong Tipiṭakapakiṇṇakadīpanī (sách tổng hợp đời sau, không thuộc Tam Tạng Pāḷi), nói rằng cúng dường vàng bạc, châu báu, voi ngựa, xây tám mươi bốn ngàn ngôi chùa… cũng không bằng một phần mười sáu của một lần dâng y Kathina, vì y Kathina giúp chư Tăng khỏi phạm giới trong thời gian hưởng năm điều.

Bốn điều “đúng” (cách tóm tắt thường gặp trong bài giảng)Đối chiếu sách của Tỳ-khưu Hộ Pháp
Đúng thờichỉ trong thời hạn Kathina; mỗi chùa một lần
Đúng đối tượngdâng đến Tăng đã an cư trọn hạ, không dâng riêng vị nào theo ý thí chủ
Đúng phápTăng sự trao y và lễ thọ y phải thành tựu theo Luật
Đúng tâmnăm cách bố thí của bậc chân nhân; tâm trong sạch, tự nguyện, không do ai khuyến khích

Sách không dùng đúng bốn tiêu đề này; đây là cách tóm tắt các ý của Ngài.

Năm điều được phép khi Kaṭhina đã thành tựu

“Này các tỳ khưu, khi các ngươi có Kaṭhina đã được thành tựu, năm điều này sẽ trở thành được phép: việc ra đi không phải báo, việc ra đi không mang theo (đủ ba y), sự thọ thực thành nhóm, (được sử dụng nhiều) y theo như nhu cầu, sự phát sanh về y tại nơi ấy sẽ là của các vị ấy.”

Đại Phẩm II, Chương Kaṭhina · Tỳ-khưu Indacanda dịch

Mỗi điều nới ra một điều học thường ngày (nguồn gốc ở thẻ Kaṭhina 1 bên dưới):

#PāliLời Tạng Luật (Indacanda)Nghĩa làGiới được nới
1anāmantacāraviệc ra đi không phải báoĐã nhận lời thỉnh bữa ăn vẫn được đi thăm các gia đình trước hay sau bữa ăn mà không báo cho vị Tỳ-khưu đang có mặt.Ưng đối trị 46
2asamādānacāraviệc ra đi không mang theo (đủ ba y)Được để lại một trong ba y, đi xa lìa qua đêm mà không phạm.Ưng xả đối trị 2
3gaṇabhojanasự thọ thực thành nhómĐược thọ bữa ăn mà bốn vị trở lên được thỉnh riêng.Ưng đối trị 32
4yāvadatthacīvara(được sử dụng nhiều) y theo như nhu cầuĐược giữ vải y dư bao lâu tùy cần, không phải chú nguyện hay để dùng chung; bình thường chỉ được giữ tối đa mười ngày.Ưng xả đối trị 1, 3
5yo ca tattha cīvaruppādosự phát sanh về y tại nơi ấy sẽ là của các vị ấyVải y phát sanh đến Tăng ở trú xứ đã an cư thuộc về các vị đã an cư ở đó. Theo Chú giải (BMC dẫn): vải thí chủ dâng cho Tăng, y của vị Tỳ-khưu đã qua đời thuộc về Tăng, vải mua bằng hoa lợi từ đất của Tăng…quy định chia y của Tăng (Chương Y phục)

BMC: điều 1, 3, 4, 5 vốn tự có trong tháng y (tháng thứ tư mùa mưa, sau lễ Pavāraṇā); Kaṭhina kéo dài chúng đến hết mùa lạnh. Riêng điều 2 chỉ có khi Kaṭhina được thành tựu. Phân tích giới của Ưng đối trị 33 cho thấy điều học ấy cũng được nới trong thời gian này. Các điều được phép chấm dứt sớm hơn nếu Kaṭhina hết hiệu lực (Phần 8).

Kaṭhina trong một ngày, từ sáng (trái) đến tối (phải)
  1. Thí chủ tự ý dâng vải đến Tăng (ít nhất năm vị); vị Tỳ-khưu không được gợi ý xin.
  2. Tăng trao vải cho một vị bằng hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai: “…hội chúng nên trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina.”
  3. Chư Tăng cùng giúp đo, cắt, may, nhuộm, vì y phải “…được cắt và kết lại nội trong ngày hôm ấy.”
  4. Y xong trước rạng đông hôm sau; vị ấy báo Kaṭhina đã thành tựu, các vị trong ranh giới tùy hỷ.

24 trường hợp Kaṭhina không được thành tựu

Ngay sau lời tuyên ngôn trao vải, đức Phật dạy: “Này các tỳ khưu, như vầy là Kaṭhina được thành tựu, như vầy là không được thành tựu.” Rồi Ngài kể hai mươi bốn trường hợp không được thành tựu.

Bấm vào từng tiêu đề để xem lời Tạng Luật (Indacanda), câu Pāli và lời giải thích. Số thứ tự theo Tạng Luật; nhãn màu cho biết nhóm: may y mới làm một phần công việc may y · vải, y vải hoặc y không đúng yêu cầu · thời hạn không xong đúng thời hạn · thủ tục sai thủ tục hoặc ranh giới.

1Mới đánh dấu khổ vảimay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn đánh dấu về chiều dài, chiều rộng.”

Na ullikhitamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới lấy số đo theo chiều dài và chiều rộng.

2Mới giặt vảimay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn giặt.”

Na dhovanamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Vải mới được giặt, chưa may thành y.

3Mới tính số điều của ymay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn tính toán về y năm điều, hoặc bảy điều, hoặc chín điều, v.v...”

Na cīvaravicāraṇamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới tính xem y sẽ có năm, bảy, chín hay mười một điều.

4Mới cắt vảimay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn cắt theo sự đã tính toán.”

Na chedanamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Vải đã cắt thành từng mảnh nhưng chưa ráp lại.

5Mới kết chỉ tạmmay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn kết chỉ tạm.”

Na bandhanamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới lược một đường chỉ tạm để giữ các mảnh.

6Mới may theo đường chỉ lượcmay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn may lại theo đường chỉ lược cho chắc.”

Na ovaṭṭiyakaraṇamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới may một đường dài theo đường chỉ tạm.

7Mới gắn miếng vải làm dấumay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn gắn miếng vải làm dấu.”

Na kaṇḍusakaraṇamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới gắn miếng vải dùng để canh các điều; Phụ chú gọi đây là “sự gắn trước”.

8Mới may cho chắcmay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn may chắc chắn.”

Na daḷhīkammakaraṇamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Mới may gia cố các đường nối, y chưa hoàn tất.

9Mới làm miếng vải viềnmay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn làm miếng vải viền.”

Na anuvātakaraṇamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới gắn đường viền ở lưng y, tức viền theo chiều dài.

10Mới làm đường viền quanhmay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn làm đường viền quanh.”

Na paribhaṇḍakaraṇamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới gắn đường viền ở bụng y, tức viền theo chiều ngang.

11Mới đắp thêm một lớpmay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn đắp thêm một lớp nữa.”

Na ovaddheyyakaraṇamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ mới đắp thêm miếng vải; hoặc lấy miếng vải từ vải Kaṭhina đắp vào một y khác không phải y Kaṭhina.

12Mới nhuộm sơmay y

“Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn nhuộm.”

Na kambalamaddanamattena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ nhúng một lần cho có màu ngà hay màu lá úa. Nếu đã nhuộm được màu thích hợp, dù một hay hai lần, thì được.

13Gợi ý để thí chủ dângvải, y

“Kaṭhina không được thành tựu do sự ra dấu hiệu gợi ý để thí chủ dâng.”

Na nimittakatena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Tập Yếu: nói “Tôi sẽ thành tựu Kaṭhina với vải này”. Chú giải thêm: được vải nhờ gợi ý kiểu “Tấm vải này đẹp, có thể dùng để thành tựu Kaṭhina”.

14Giảng giải rồi kêu gọivải, y

“Kaṭhina không được thành tựu do sự giảng giải về Kaṭhina rồi kêu gọi.”

Na parikathākatena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: khiến người ta dâng bằng lời nói bóng gió như “Dâng vải Kaṭhina là đúng phép, người dâng Kaṭhina được nhiều phước”.

15Vải mượn tạmvải, y

“Kaṭhina không được thành tựu với y được mượn tạm thời.”

Na kukkukatena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Vải phải thật sự được dâng cho Tăng; vải mượn rồi trả lại thì không được.

16Vải tích trữvải, y

“Kaṭhina không được thành tựu với sự tích trữ.”

Na sannidhikatena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Tập Yếu chia hai loại tích trữ. Theo Chú giải (BMC dẫn): vải đã trao cho vị Tỳ-khưu mà để qua ngày chưa làm xong, hoặc Tăng nhận vải hôm trước mà hôm sau mới trao.

17Để qua đêm, phải xả bỏthời hạn

“Kaṭhina không được thành tựu do sự hủy bỏ vì để qua đêm.”

Na nissaggiyena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Tập Yếu (BMC dẫn): rạng đông đến khi y còn đang may dở.

18Chưa làm dấu hoại yvải, y

“Kaṭhina không được thành tựu với sự không làm thành được phép tức là không làm dấu hoại y.”

Na akappakatena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Y mới phải được làm dấu bằng một trong ba màu hoại sắc rồi mới dùng (Ưng đối trị 58).

19Không phải y hai lớpvải, y

“Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là y hai lớp.”

Na aññatra saṅghāṭiyā atthataṃ hoti kathinaṃ.

Y dùng để thành tựu Kaṭhina phải là một trong ba y: y hai lớp, thượng y hoặc y nội (trường hợp 19–21). Chú giải: vị ấy xả y cũ, chú nguyện y mới rồi tuyên bố thành tựu Kaṭhina với y ấy.

20Không phải thượng yvải, y

“Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là thượng y (y vai trái).”

Na aññatra uttarāsaṅgena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Như trường hợp 19: y Kaṭhina phải là một trong ba y.

21Không phải y nộivải, y

“Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là y nội.”

Na aññatra antaravāsakena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Như trường hợp 19: y Kaṭhina phải là một trong ba y.

22Không đủ năm điều, không xong trong ngàythời hạn

“Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là năm điều hoặc nhiều hơn năm điều, không được cắt và kết lại nội trong ngày hôm ấy.”

Na aññatra pañcakena vā atirekapañcakena vā tadaheva sañchinnena samaṇḍalīkatena atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: năm phần trở lên; mỗi phần gồm một điều lớn, một điều vừa và một dải nối ở giữa. Y phải được cắt và ráp xong ngay trong ngày.

23Không do cá nhân thành tựuthủ tục

“Kaṭhina không được thành tựu trừ phi do sự thành tựu bởi cá nhân.”

Na aññatra puggalassa atthārā atthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: chỉ cá nhân thành tựu, không phải Tăng hay một nhóm. “Thành tựu” ở đây không phải việc may y mà là lời tuyên bố khi y đã xong. BMC: vì vậy đây không phải hành sự của Tăng.

24Vị tùy hỷ đứng ngoài ranh giớithủ tục

“Nếu Kaṭhina đã được thành tựu đúng đắn nhưng vị tùy hỷ việc ấy đứng ngoài ranh giới, như vậy Kaṭhina vẫn không được thành tựu.”

Sammā ce atthataṃ hoti kathinaṃ, tañce nissīmaṭṭho anumodati, evampi anatthataṃ hoti kathinaṃ.

Chú giải: các vị tùy hỷ đắp thượng y một bên vai, chắp tay nói (theo Tập Yếu) Atthataṃ āvuso saṅghassa kathinaṃ, dhammiko kathinatthāro, anumodāma (Kaṭhina của Tăng đã được thành tựu, sự thành tựu đúng Pháp, chúng tôi tùy hỷ). Theo Chú giải, vị tùy hỷ phải ở trong khuôn viên chùa. BMC: vị đứng ngoài thì riêng vị ấy không được hưởng năm điều.

Lời Chú giải (Samantapāsādikā) và Phụ chú theo chú thích của Bhikkhu Brahmali trong bản dịch Tạng Luật trên SuttaCentral; Tập Yếu = Parivāra.

Ngược lại, Kaṭhina được thành tựu với vải mới, vải được xem như mới, vải áo choàng cũ, vải dơ bị quăng bỏ, vải nhặt được trước cửa tiệm; không gợi ý, không kêu gọi, không mượn, không tích trữ, không để qua đêm; y đã làm dấu hoại y, là y hai lớp, thượng y hoặc y nội, từ năm điều trở lên, cắt và kết lại trong ngày; do cá nhân thành tựu và vị tùy hỷ đứng trong ranh giới (xem thẻ Kaṭhina 2).

⚖️
PHẦN 8

Hiệu lực của Kaṭhina · thử phán xét

Thế nào là còn hiệu lực, hết hiệu lực? Tạng Luật

Kaṭhina còn hiệu lựcatthata kathina
Kaṭhina đã được thành tựu và chưa hết hiệu lực: vị ấy còn được hưởng năm điều được phép (Phần 7). Nhờ đó thời hạn về y cũng dài ra: “Thời hạn về y nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu thì một tháng cuối của mùa mưa. Khi Kaṭhina được thành tựu thì năm tháng.” (Phân tích giới, Ưng xả đối trị 28)
Kaṭhina hết hiệu lựcubbhata kathina
“Khi Kaṭhina đã hết hiệu lực: là đã hết hiệu lực do bất cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề, hoặc là đã hết hiệu lực giữa chừng do hội chúng.” (Phân tích giới, Ưng xả đối trị 1) Từ đó năm điều được phép chấm dứt; chẳng hạn y phụ trội lại chỉ được giữ tối đa mười ngày (Ưng xả đối trị 1).
Vướng bận về trú xứāvāsapalibodha
“…trường hợp vị tỳ khưu hoặc là cư ngụ tại trú xứ ấy hoặc là ra đi với sự mong mỏi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Này các tỳ khưu, như vậy là có sự vướng bận về trú xứ.”
Vướng bận về ycīvarapalibodha
“…trường hợp y của vị tỳ khưu chưa được làm, hoặc là chưa được làm xong, hoặc là niềm mong mỏi về y chưa bị tan vỡ.” Ngược lại, “Khi vấn đề y đã được dứt điểm: Y của vị tỳ khưu đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y đã bị tan vỡ.”
  1. Còn một trong hai vướng bận thì Kaṭhina của vị ấy còn hiệu lực, nhưng muộn nhất cũng chỉ đến hết mùa lạnh (năm tháng sau khi mãn an cư).
  2. Hết hiệu lực sớm theo một trong hai cách (BMC): Tăng cùng làm hành sự thâu hồi Kaṭhina (“hết hiệu lực giữa chừng do hội chúng”), hoặc vị ấy hết cả vướng bận về trú xứ lẫn vướng bận về y. Tám tiêu đề dưới đây là các cách hai vướng bận ấy chấm dứt.

Tám tiêu đề làm Kaṭhina hết hiệu lực

Bấm vào từng tiêu đề để xem trường hợp mẫu trong Tạng Luật (Indacanda) và giải thích. Nhãn màu cho biết vướng bận nào chấm dứt sau cùng.

1Do sự ra đihết vướng bận trú xứ

pakkamanantikā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y đã được làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Sự việc ra đi là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.”

Y đã xong nên hết vướng bận về y từ trước; khi vị ấy ra đi với ý không trở về thì hết luôn vướng bận về trú xứ.

2Do (y) được hoàn tấthết vướng bận y

niṭṭhānantikā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.”

Vị ấy đã quyết không trở về (hết vướng bận trú xứ); y may xong ở bên ngoài thì hết nốt vướng bận về y.

3Do tự mình dứt khoáthết cả hai

sanniṭṭhānantikā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.”

Một quyết định chấm dứt cùng lúc cả hai vướng bận: không may y nữa và không trở về.

4Do bị mấthết vướng bận y

nāsanantikā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.”

Đã quyết không trở về; vải đang may thì bị mất nên hết vướng bận về y.

5Do nghe được (tin)hết vướng bận trú xứ

savanantikā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.”

Y đã xong; vị ấy định trở về, nhưng nghe tin Tăng ở trú xứ đã thâu hồi Kaṭhina nên không còn vướng bận trú xứ.

6Do sự tan vỡ của niềm mong mỏihết vướng bận y

āsāvacchedikā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.”

“Niềm mong mỏi về y” là chờ vải người khác đã hứa dâng. Vải không đến thì hết vướng bận về y.

7Do sự vượt qua ranh giớihết thời hạn

sīmātikkantikā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ rồi chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.”

Chú giải và Tập Yếu hiểu “ranh giới” là ranh giới chỗ ở. Phụ chú hiểu là ranh giới thời gian: cứ hẹn về mà ở ngoài cho đến khi hết hạn Kaṭhina. BMC cho cách hiểu sau hợp với các ví dụ trong Tạng Luật hơn.

8Do sự hết hiệu lực cùng một lúccùng với Tăng

sahubbhārā

“Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu.”

Kaṭhina của vị ấy hết hiệu lực chung với các vị khác. BMC: Tạng Luật không nói rõ, nhưng dường như chỉ trường hợp vị ấy dự cuộc họp Tăng thâu hồi Kaṭhina.

Chương Kaṭhina phối hợp tám tiêu đề thành khoảng chín mươi trường hợp, theo các nhóm “cầm lấy”, “mang theo”, “mong mỏi về y”, “có công việc cần làm”, “chưa thâu thập”, “vị có sự trú ngụ thoải mái”. BMC: không cần thuộc hết; chỉ cần nhớ Kaṭhina hết hiệu lực sớm khi Tăng thâu hồi, hoặc khi đã hết cả hai vướng bận. Xem thêm các trường hợp ở thẻ Kaṭhina 3, tab “Chuyện dẫn giải”.

Tăng thâu hồi Kathina (antarubbhāra) Tỳ-khưu Hộ Pháp

Đây là cách thứ hai làm Kathina “hết hiệu lực giữa chừng do hội chúng”. Duyên khởi (Tạng Luật, Phân tích giới Tỳ-khưu-ni, Ưng đối trị 30, theo sách của Tỳ-khưu Hộ Pháp): một cận sự nam xây trú xá cho Tăng, muốn nhân lễ khánh thành dâng y ngoài thời (akālacīvara) đến cả hai Tăng; nhưng Kathina của hai Tăng đã thành tựu, nên ông xin Tăng thâu hồi Kathina. Đức Phật dạy: Anujānāmi, bhikkhave, kathinaṃ uddharituṃ (ta cho phép thâu hồi Kathina).

📜Lời đề nghị và tuyên ngôn thâu hồi KathinaSaṅgho kathinaṃ uddhareyya…

Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho kathinaṃ uddhareyya. Esā ñatti. Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho kathinaṃ uddharati. Yassāyasmato khamati kathinassa uddhāro, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya. Ubbhataṃ saṅghena kathinaṃ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṃ dhārayāmi.

Ý nghĩa (theo Tỳ-khưu Hộ Pháp): Kính bạch chư Đại đức Tăng, nếu hợp thời đối với Tăng, xin Tăng thâu hồi Kathina; đó là lời đề nghị. Tăng thâu hồi Kathina; vị nào hài lòng xin im lặng, vị nào không hài lòng xin nói lên. Kathina đã được Tăng thâu hồi; Tăng hài lòng nên im lặng, tôi ghi nhận như vậy.

Lời tụng theo sách Lễ Dâng Y Kathina của Tỳ-khưu Hộ Pháp

  1. Hậu quả: từ khi Tăng thâu hồi, mọi vị trong chùa mất năm điều được phép, dù chưa đến rằm tháng 2.
  2. Khi nên thâu hồi (Tỳ-khưu Hộ Pháp): y phát sinh trong lễ Kathina trước quá ít, chư Tăng thiếu y, mà có thí chủ muốn dâng y Kathina ngoài thời cùng nhiều y; hoặc hai lần bằng nhau, thâu hồi để giữ đức tin của thí chủ sau.
  3. Khi không nên thâu hồi: lần sau ít hơn lần trước; khi ấy Tăng giữ năm điều được phép đến hết hạn.
  4. Lý do khác (BMC): có Tăng thâu hồi để không nới lỏng giới luật, tránh vị lười gia nhập chỉ vì các điều được phép; hoặc để các vị mới đến sau được chia phần y dâng cho Tăng.

Khi chùa có ít hơn năm vị an cư

1Chỉ một vị an cư

Tạng Luật, Chương Y phục: “Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa chỉ mỗi một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép các y ấy là của chính vị ấy cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina.”

Tỳ-khưu Hộ Pháp: vị ấy được nhận y Kathina của thí chủ, rồi ngay trong ngày mang y đến một chùa có sīmā, thỉnh ít nhất bốn vị họp tại sīmā tụng lời trao y cho mình, rồi về nơi đã an cư làm lễ thọ y Kathina trong ngày ấy.

2Hai đến bốn vị an cư

Tỳ-khưu Hộ Pháp: ngay trong ngày phải thỉnh thêm vị từ chùa khác cho đủ năm vị để làm hành sự trao y; chư Tăng khách không nói lời hoan hỷ và không hưởng năm điều được phép. BMC ghi: Chú giải không tính vị từ chùa khác vào túc số, nhưng Tạng Luật không có quy định ấy.

⚖️ Thử phán xét — 10 tình huống

Đúng Luật hay không? Các tình huống dựa trên Tạng Luật và BMC; trong thực tế, xin hỏi chư Tăng thông Luật và theo truyền thống của Tăng đoàn mình.

☸️
KẾT LUẬN

Ngay cả bậc A-la-hán cũng đi dự Uposatha

Ngài Mahākappina, đã là bậc A-la-hán, suy nghĩ: “Ta nên đi (tham dự) lễ Uposatha hay là không nên đi, ta nên đi (tham dự) hành sự của hội chúng hay là không nên đi, trong khi ta đã được thanh tịnh với sự thanh tịnh tối thượng?” Đức Phật hiện ra trước mặt Ngài và dạy:

“Nếu các ngươi là những người có Phạm hạnh không trọng vọng, không cung kính, không sùng bái, không cúng dường lễ Uposatha thì còn ai sẽ trọng vọng, sẽ cung kính, sẽ sùng bái, sẽ cúng dường lễ Uposatha nữa? Này người có Phạm hạnh, ngươi hãy đi (tham dự) lễ Uposatha, chớ có không đi. Ngươi hãy đi (tham dự) hành sự của hội chúng, chớ có không đi.”
🌿

Uposatha giữ giới trong sạch mỗi nửa tháng; an cư giữ sự tu tập ổn định; Pavāraṇā giữ lòng thẳng thắn với nhau; Kaṭhina đáp lại sự khó nhọc của mùa mưa. Bài cuối học cách Tăng giúp một vị ra khỏi tội nặng và các hành sự kỷ luật: Sám hối, biệt trú và các Tăng sự kỷ luật.

✍️
ÔN TẬP

Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm

Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật

Trắc nghiệm 15 câu

✍️Bài tập Bài 16 — 83 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →
📚
NGUỒN

Tài liệu tham khảo

  • Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Đại Phẩm I (Chương II: Uposatha; Chương III: Vào mùa mưa; Chương IV: Pavāraṇā) và Đại Phẩm II (Chương VII: Kaṭhina), tamtangpaliviet.net.
  • Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code II, các chương Rains-residence, Uposatha, Invitation, Kaṭhina, dhammatalks.org — phần bình giải.
  • Bản Pāli Mahāsaṅgīti các Thiên (Mahāvagga), SuttaCentral.
  • Tỳ-khưu Hộ Pháp (Dhammarakkhita), Lễ Dâng Y Kathina, PL 2550, theravada.vn — nghi lễ, phước báu, thâu hồi Kathina.
  • HT. Thích Minh Châu (dịch), Trung Bộ, Kinh Phân Biệt Cúng Dường (MN 142), SuttaCentral; Tăng Chi Bộ, Kinh Bố Thí Xứng Bậc Chân Nhân (AN 5.148), SuttaCentral.

📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

📝 Phần chính trích nguyên văn Tạng Luật bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda; phần bình giải theo The Buddhist Monastic Code của Ṭhānissaro Bhikkhu (được phép sao chép để phát không). Phần trình bày, sơ đồ, tình huống và câu hỏi do trang Thừa Tự Pháp biên soạn. Đây là tài liệu học tập; khi gặp trường hợp cụ thể, xin hỏi chư Tăng thông Luật.