Toàn cảnh
Phần cuối của Giới bổn chỉ là một câu liệt kê. Pāli: “Uppannuppannānaṃ adhikaraṇānaṃ samathāya vūpasamāya…” Bản Indacanda:
“Nhằm đưa đến sự dàn xếp, nhằm đưa đến sự giải quyết các sự tranh tụng đã sanh khởi hoặc chưa sanh khởi, nên áp dụng cách hành xử Luật với sự hiện diện, nên áp dụng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, nên áp dụng cách hành xử Luật khi không điên cuồng, nên phán xử theo sự thừa nhận, thuận theo số đông, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp.”
| # | Pháp dàn xếp (Indacanda) | Pāli |
|---|---|---|
| 1 | Hành xử Luật với sự hiện diện | Sammukhāvinaya |
| 2 | Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ | Sativinaya |
| 3 | Hành xử Luật khi không điên cuồng | Amūḷhavinaya |
| 4 | Phán xử theo sự thừa nhận | Paṭiññātakaraṇa |
| 5 | Thuận theo số đông | Yebhuyyasikā |
| 6 | Theo tội của vị ấy | Tassapāpiyasikā |
| 7 | Cách dùng cỏ che lấp | Tiṇavatthāraka |
Phần chính trích nguyên văn Tạng Luật bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda: Phân tích Giới Tỳ-khưu II (phần Giới bổn) và Tiểu Phẩm I, Chương Dàn xếp (Cullavagga IV); phần bình giải theo The Buddhist Monastic Code I, chương 11 (Ṭhānissaro Bhikkhu).
Chuyện xưa: Tăng chúng Kosambī chia rẽ Tạng Luật
Một chuyện nhỏ có thể chia đôi cả Tăng chúng. Chương Kosambī (Đại Phẩm II, Chương X) kể từ đầu đến cuối một cuộc tranh tụng như thế, và cách nó được dàn xếp.
- Mầm mống. Ở tu viện Ghosita, một vị Tỳ-khưu phạm tội.
“Vị ấy có quan điểm về tội ấy là có tội, còn các vị tỳ khưu khác có quan điểm về tội ấy là vô tội.”
Về sau thì ngược lại. Theo Chú giải mà HT. Hộ Pháp kể lại, chuyện bắt đầu khi“Một vị tỳ-khưu thông-thuộc-kinh đi ra khỏi nhà vệ sinh, để nước rửa còn dư trong ca.”
- Án treo và chia phe. Các vị kia hợp nhất phạt án treo vị ấy về việc không nhìn nhận tội. Vị ấy là bậc nghe nhiều, rành Pháp rành Luật, liền đi tìm các bạn đồng quan điểm:
“…Tôi đã bị án treo bởi hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Vì Pháp vì Luật, các đại đức hãy về phe của tôi.”
- Đức Phật khuyên cả hai bên. Với bên ban án treo:
“…các tỳ khưu quan tâm về sự chia rẽ không nên phạt án treo về việc không nhìn nhận tội đến vị tỳ khưu ấy.”
Với bên kia:“…vị tỳ khưu quan tâm về sự chia rẽ nên trình báo tội ấy vì niềm tin của các vị khác.”
Hai bên vẫn không nghe; Đức Phật một mình rời Kosambī, an cư trong rừng Pārileyyaka. - Cư sĩ không cúng dường nữa.
“…các cư sĩ ở Kosambi đã không đảnh lễ, không đứng dậy, không thực hiện việc chắp tay và hành động thích hợp, không trọng vọng, không cung kính, không sùng bái, không cúng dường, không bố thí đồ ăn khất thực cho các vị đi đến.”
- Tự nhận ra lỗi. Vị bị án treo suy xét về Pháp và Luật, rồi nói với các bạn:
“Này các đại đức, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Tôi bị phạm (tội), tôi không phải là không phạm (tội).”
- Phục hồi và hợp nhất. Đức Phật dạy:
“…bởi vì vị tỳ khưu ấy đã phạm (tội), đã bị án treo, và nhìn nhận. Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hãy phục hồi cho vị tỳ khưu ấy.”
Sau đó toàn thể Tăng, kể cả các vị bệnh, tụ hội một chỗ, không ai được gởi lời tùy thuận, và làm hành sự hợp nhất hội chúng.
Tranh tụng thường không bắt đầu từ tội lớn mà từ hai cách nhìn khác nhau về một lỗi nhỏ. Đức Phật dạy bên nào cũng nghĩ đến sự hợp nhất trước khi giữ phần đúng của mình; bảy pháp dàn xếp ở các phần sau là cách Tăng giải quyết những việc như thế.
Nguồn: Tạng Luật, Đại Phẩm II, Chương X: Chương Kosambi — Tỳ-khưu Indacanda dịch; chi tiết về ca nước theo Tỳ-khưu Hộ Pháp, Quyển V · Phước Thiện, mục “Hai nhóm tỳ-khưu xứ Kosambī cãi cọ nhau”.
Bốn sự tranh tụng
Duyên khởi: các Tỳ-khưu và các Tỳ-khưu-ni tranh cãi nhau, Tỳ-khưu Channa theo phe các vị Ni. Đức Phật dạy: “Này các tỳ khưu, đây là bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.”
| Tranh tụng | Theo Tiểu Phẩm (Indacanda dịch) |
|---|---|
| Liên quan đến tranh cãi vivādādhikaraṇa | Tranh cãi rằng “‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ hoặc ‘Đây là Luật,’ hoặc ‘Đây không phải là Luật,’ … hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’”(mười tám điều) |
| Liên quan đến khiển trách anuvādādhikaraṇa | “…khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới, hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng.” |
| Liên quan đến tội āpattādhikaraṇa | “Năm nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến tội, bảy nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến tội…” |
| Liên quan đến nhiệm vụ kiccādhikaraṇa | “Việc gì thuộc về hội chúng cần phải hoàn thành cần phải thực hiện (tức là) hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư.” |
Bốn sự tranh tụng đã xuất hiện ở Ưng đối trị 63 (khơi lại tranh tụng đã giải quyết, Bài 10).
Hành xử Luật với sự hiện diện
Ghi nhớ và không điên cuồng
Hai phán quyết vô tội trước lời khiển trách: một cho vị nhớ rõ mình không phạm, một cho vị đã làm sai khi đang điên.
Phán xử theo sự thừa nhận
Thuận theo số đông
Theo tội của vị ấy và cách dùng cỏ che lấp
Tổng hợp · thử phán xét · toàn bộ Giới bổn
Tranh tụng nào được dàn xếp bằng pháp nào
Theo Tiểu Phẩm, Chương Dàn xếp, mục “Cách giải quyết sự tranh tụng”.
| Tranh tụng | Được lắng dịu bởi |
|---|---|
| Tranh cãi | “…hai cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện và bằng cách thuận theo số đông.” |
| Khiển trách | “…bốn cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện, bằng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, bằng cách hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy.” |
| Tội | “…ba cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện, bằng việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và bằng cách dùng cỏ che lấp.” |
| Nhiệm vụ | “…một cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện.” |
⚖️ Thử phán xét — 10 tình huống
Chọn pháp dàn xếp thích hợp, hoặc xét đúng Pháp hay sai Pháp. Các tình huống dựa trên Tiểu Phẩm và BMC; trong thực tế, xin hỏi chư Tăng thông Luật.
Toàn bộ Giới bổn 227 điều
| Nhóm | Số điều | Học ở |
|---|---|---|
| Bất cộng trú Pārājika | 4 | Bài 2 |
| Tăng tàn Saṅghādisesa | 13 | Bài 3, 4 |
| Bất định Aniyata | 2 | Bài 4 |
| Ưng xả đối trị Nissaggiya pācittiya | 30 | Bài 5, 6 |
| Ưng đối trị Pācittiya | 92 | Bài 7–10 |
| Ưng phát lộ Pāṭidesanīya | 4 | Bài 11 |
| Ưng học pháp Sekhiya | 75 | Bài 11 |
| Pháp dàn xếp tranh tụng Adhikaraṇasamatha | 7 | Bài 12 |
| Cộng | 227 |
Cần xem lại nhanh một điều bất kỳ (duyên sự, chi phần, hình phạt, không phạm)? Mở trang Tra cứu 227 điều học, gõ tên hay số điều để tìm.
Học tập với sự hợp nhất
Giới bổn khép lại bằng bảy pháp giữ cho Tăng hòa hợp khi có tranh chấp, và bằng lời nhắc chung cho cả 227 điều:
“…Bấy nhiêu của đức Thế Tôn ấy đã được truyền lại trong giới bổn, đã được đầy đủ trong giới bổn, được đưa ra đọc tụng vào mỗi nửa tháng. Chính tất cả (chư đại đức) nên học tập các điều học ấy với sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ.”
Đến đây, các bài 2–12 đã đi hết 227 điều học của Giới bổn Tỳ-khưu. Các bài sau trên lộ trình (13–17) sẽ học các Thiên (Khandhaka): tứ vật dụng, chỗ ở, Tăng sự, Uposatha, an cư, Kathina, và các Tăng sự kỷ luật.
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Bài 12 — 57 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Phân Tích Giới Tỳ-khưu II, phần Các pháp dàn xếp tranh tụng; và Tạng Luật – Tiểu Phẩm I, Chương IV: Chương Dàn xếp, tamtangpaliviet.net.
- Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code I, chương 11 (Adhikaraṇa-samatha), dhammatalks.org — phần bình giải.
- Giới bổn Pātimokkha, bản Pāli Mahāsaṅgīti, SuttaCentral.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

