Sa-di là ai?
Trong Phật giáo Nam tông, người muốn xuất gia trước hết thọ sa-di (sāmaṇera): cạo bỏ râu tóc, đắp y, quy y Tam Bảo và giữ mười giới. Đến khi đủ hai mươi tuổi và đủ điều kiện, sa-di mới được Tăng cho tu lên bậc trên (upasampadā), trở thành Tỳ-khưu.
Sa-di nghĩa là gì? Tỳ-khưu Hộ Pháp
“Samaṇassa apaccaṃ sāmaṇero”. “Sāmaṇera: Sa di thuộc về dòng dõi con cái của Sa môn nói chung, và cũng là con của vị Đại Đức Thầy Tế độ nói riêng, để kế thừa truyền thống dòng dõi của Sa môn, để giữ gìn và duy trì giáo pháp của Đức Phật”.
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaBa bậc xuất gia Tỳ-khưu Hộ Pháp
| Bậc | Pāli | Theo sách |
|---|---|---|
| Đạo sĩ | Isipabbajja | “Bậc xuất gia đạo sĩ.” |
| Sa-di | Sāmaṇerapabbajja | “Bậc thọ Sa di trong Phật giáo. Hạng tuổi từ 7 tuổi đến 19 tuổi.” |
| Tỳ-khưu | Bhikkhupabbajja | “Bậc thọ Tỳ khưu trong Phật giáo. Hạng tuổi từ 20 tuổi trở lên.” |
Mốc tuổi tối thiểu theo Tạng Luật (mười lăm tuổi, hoặc trẻ đuổi được quạ) học ở Phần 4.
Thành sa-di là có ngay năm phần Tỳ-khưu Hộ Pháp
“…khi giới tử đọc lặp theo đến lần thứ ba ‘Tatiyampi Saṃgham saraṇam gacchāmi’ chấm dứt chữ cuối cùng ‘gacchāmi’ thì giới tử ấy trở thành vị Sa di thật, có đầy đủ 10 giới Sa di, 10 pháp hoại, 10 pháp hành phạt, 75 điều học, 14 pháp hành cùng lúc trở thành Sa di không trước không sau.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaNăm phần ấy là khung của khu học này:
Duyên sự: hoàng tử Rāhula xuất gia
Bậc sa-di có từ khi hoàng tử Rāhula, con của Đức Phật, xin “phần thừa kế” và được cho xuất gia.
Duyên sự Tạng Luật
Đức Thế Tôn về Kapilavatthu, ngự tại tu viện Nigrodha, rồi đến tư dinh của vua Suddhodana. “Này Rāhula, người kia là cha của con. Hãy đi và cầu xin phần thừa kế.”
Hoàng tử đến đứng trước Đức Thế Tôn: “Này vị Sa-môn, bóng che của ngài thật an lạc.”
Khi Đức Thế Tôn đứng dậy ra đi, hoàng tử theo sát phía sau: “Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế. Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế.”
Đức Thế Tôn bảo ngài Sāriputta: “Này Sāriputta, như thế thì ngươi hãy cho hoàng tử Rāhula xuất gia.”
Ngài Sāriputta hỏi: “Bạch ngài, con cho hoàng tử Rāhula xuất gia như thế nào?”
Đức Thế Tôn cho phép cách xuất gia sa-di ở dưới. “Khi ấy, đại đức Sāriputta đã cho hoàng tử Rāhula xuất gia.”
Ba vị thầy của sa-di Rāhula Tỳ-khưu Hộ Pháp
- Ngài Sāriputta:
“…là đức Thầy Tế độ (ācariyupajjhāya).”
- Ngài Moggallāna:
“…là đức Thầy lo lễ thọ Sa di cạo tóc, dạy mặc y cà sa, truyền Tam quy, dạy Sa di giới (pabbajjācariya).”
- Ngài Mahākassapa:
“…là Đức Thầy giảng dạy các pháp (ovādācariya).”
Phần thừa kế là gì? HT. Hộ Pháp viết: “Thay vì truyền của báu thế gian, Đức Thế Tôn truyền của báu siêu tam giới cho hoàng tử Rāhula.” Theo sách, khi ấy hoàng tử mới lên bảy, và “Hoàng tử Rāhula là vị thọ Sa di đầu tiên trong giáo pháp của Đức Phật Gotama”.
Phải được cha mẹ cho phép
Sau khi Rāhula xuất gia, vua Suddhodana đến xin Đức Thế Tôn một điều. Từ lời xin ấy có quy định: người con chưa được cha mẹ cho phép thì không cho xuất gia.
Lời xin của vua Suddhodana Tạng Luật
“Bạch ngài, khi đức Thế Tôn đã xuất gia, đau khổ đã khởi lên ở trẫm không phải là ít, tương tự như vậy trong việc Nandā, (nhưng là sự đau khổ) vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula. Bạch ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da, sau khi cắt vào da nó cắt vào lớp da trong, sau khi cắt vào lớp da trong nó cắt vào thịt, sau khi cắt vào thịt nó cắt vào gân, sau khi cắt vào gân nó cắt vào xương, sau khi cắt vào xương nó đạt đến tủy xương rồi trú (ở đó). Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia.”
Đại Phẩm, Chương Trọng Yếu · Indacanda dịch“Trường hợp cha mẹ qua đời rồi, thì người con ấy phải được người thân, thay thế cha mẹ cho phép.”
BMC dẫn Chú giải: điều kiện này gồm cả cha mẹ nuôi; không cần xin phép cha hay mẹ đã qua đời hoặc đã bỏ rơi người con. Nếu cả cha lẫn mẹ còn lo cho con thì phải được cả hai cho phép.
Tội thuộc về ai? Tội dukkaṭa là của vị Tỳ-khưu cho xuất gia. BMC: người được xuất gia khi chưa được cha mẹ cho phép vẫn kể là đã xuất gia đúng; nếu sau đó thọ cụ túc thì vẫn thành Tỳ-khưu, không phải trục xuất.
Tuổi xuất gia và tuổi thọ cụ túc
Tạng Luật đặt hai mốc tuổi: một cho việc xuất gia làm sa-di, một cho việc tu lên bậc trên làm Tỳ-khưu.
Mười lăm tuổi và trẻ “đuổi được quạ” Tạng Luật
Một gia đình chết vì bệnh dịch, chỉ còn hai cha con; cả hai xuất gia rồi đi khất thực chung. Đứa trẻ chạy lại nói: “Cha yêu quý, hãy cho con với. Cha yêu quý, hãy cho con với.”
Dân chúng chê trách. Đức Thế Tôn quy định:
“Này các tỳ khưu, đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Gia đình hộ độ của ngài Ānanda cũng chết vì bệnh dịch, còn sót hai đứa trẻ dưới mười lăm tuổi. Ngài Ānanda lo “…bằng phương cách gì để những đứa trẻ này không thể bị tiêu hoại đây?”
Đức Thế Tôn hỏi: “Này Ānanda, những đứa trẻ ấy có khả năng để đuổi các con quạ bay đi không?”
“Này các tỳ khưu, ta cho phép xuất gia đứa trẻ dưới mười lăm tuổi là trẻ (có thể) đuổi được quạ.”
BMC dẫn Chú giải: “đuổi được quạ” nghĩa là một tay cầm cục đất, có thể đuổi quạ khỏi đồ ăn để trước mặt trong khi tay kia đang ăn. HT. Hộ Pháp ghi tuổi sa-di “từ 7 tuổi đến 19 tuổi”, và kể hoàng tử Rāhula xuất gia khi mới lên bảy.
Hai mươi tuổi mới tu lên bậc trên Tạng Luật
Mười bảy thiếu niên, thủ lãnh là Upāli, được cho tu lên bậc trên khi chưa đủ tuổi; ban đêm các vị khóc đòi ăn. Đức Thế Tôn khiển trách:
“Này các tỳ khưu, người chưa đến hai mươi tuổi không có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích…”
Đại Phẩm, Chương Trọng Yếu · Indacanda dịch| Tuổi | Xuất gia sa-di | Thọ cụ túc (Tỳ-khưu) |
|---|---|---|
| Dưới 15, chưa đuổi được quạ | Không nên; vị cho xuất gia phạm dukkaṭa | Không |
| Dưới 15, đuổi được quạ | Được phép | Không |
| Từ 15 đến dưới 20 | Được phép | Không; xem ƯĐT 65 |
| Đủ 20 | Được phép | Được, nếu đủ các điều kiện khác |
BMC: tuổi hai mươi tính từ khi thọ thai; thường cộng thêm sáu tháng vào số năm từ khi sinh. Người chưa đủ tuổi mà được cho thọ cụ túc thì không thành Tỳ-khưu; Chú giải nói vị ấy vẫn là sa-di.
Những người không nên cho xuất gia
Đại Phẩm kể nhiều hạng người không nên cho xuất gia. Mỗi lời quy định đều kết bằng câu “…vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Tội thuộc về vị Tỳ-khưu cho xuất gia; người đã lỡ được cho xuất gia vẫn kể là đã xuất gia (BMC).
Mười hạng người Tạng Luật
- người bị mắc phải năm chứng bệnh
- binh sĩ của đức vua
- kẻ cướp có mang biểu tượng
- kẻ cướp phá ngục
- kẻ cướp bị cáo thị tầm nã
- kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi
- kẻ bị xử hình phạt đóng dấu
- kẻ thiếu nợ
- kẻ nô tỳ
- người con trai chưa được phép của cha mẹ
Năm chứng bệnh: “…bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh.”
Duyên sự: người bệnh xuất gia để được thầy thuốc Jīvaka chữa, khỏi bệnh rồi hoàn tục.
📜Nguyên văn các lời quy địnhĐại Phẩm · Indacanda dịch
“Này các tỳ khưu, không nên cho người bị mắc phải năm chứng bệnh xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho binh sĩ của đức vua xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp phá ngục xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ thiếu nợ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ nô tỳ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
“Này các tỳ khưu, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Đại Phẩm, Chương Trọng Yếu
Ba mươi hai trường hợp về thân thể Tạng Luật
Đại Phẩm kể ba mươi hai trường hợp, kết bằng câu “Dứt ba mươi hai trường hợp không nên cho xuất gia.”
- người bị đứt cánh tay
- người bị đứt bàn chân
- người bị đứt cánh tay và bàn chân
- người bị sứt tai
- người bị sứt mũi
- người bị sứt tai và mũi
- người bị đứt ngón tay
- người bị đứt móng tay
- người bị đứt gân chân
- người có bàn tay dính liền giống cánh dơi
- người gù lưng
- người lùn tịt
- người có bướu cổ
- người bị xử hình phạt đóng dấu
- người bị xử hình phạt đánh bằng roi
- người bị cáo thị tầm nã
- người phù chân voi
- người có bệnh trầm trọng
- người bôi nhọ tập thể
- người chột mắt
- người có tứ chi bị co rút
- người què
- người bị liệt nửa thân
- người đi khập khiễng
- người già yếu
- người mù
- người câm
- người điếc
- người mù và câm
- người mù và điếc
- người câm và điếc
- người mù câm điếc
Vì sao có những điều này? BMC xếp các hạng trên vào nhóm “không nên nhận” (undesirable): người còn nghĩa vụ với người khác (cha mẹ, chủ nợ, chủ, nhà vua), người đang bị pháp luật truy cứu, người có bệnh hay khuyết tật làm việc tu tập khó khăn hoặc làm người đời chê trách. Vị Tỳ-khưu cho xuất gia thì phạm dukkaṭa, nhưng việc xuất gia vẫn thành.
Mười một hạng người không thể thành sa-di
Khác với các hạng ở Phần 5, có những hạng người không thể thành sa-di hay Tỳ-khưu: dù có làm lễ cũng không thành, và nếu đã lỡ cho tu lên bậc trên thì phải trục xuất.
Mười một hạng người không được phép thọ sa-di Tỳ-khưu Hộ Pháp
- “Trộm Tăng tướng Tỳ khưu: giả Tỳ khưu sống chung với Tỳ khưu thật” (theyyasaṃvāsaka)
- “Người từ ngoại đạo qua Phật giáo, song chưa bỏ tà kiến của ngoại đạo” (diṭṭhiyapakkantaka)
- “Người ái nam” (paṇṇaka)
- “Long vương hóa thành người nam” (tiracchāna)
- “Người cận sự nam giết mẹ” (mātughātaka)
- “Người cận sự nam giết cha” (pitughātaka)
- “Người cận sự nam giết bậc Thánh A-ra-hán” (Arahantaghātaka)
- “Người cận sự nam làm cho kim thân của Đức Phật bị vết bầm (máu)” (lohituppādaka)
- “Người cận sự nam làm chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng” (Saṃghabhedaka)
- “Người cận sự nam hãm hại phạm hạnh Tỳ khưu ni” (bhikkhunīdūsaka)
- “Người có lưỡng tính” (ubhatobyañjana)
Lời quy định trong Tạng Luật Tạng Luật
“Này các tỳ khưu, kẻ vô căn chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.”
Đại Phẩm, Chương Trọng Yếu · Indacanda dịchCùng một khuôn câu ấy, Đại Phẩm quy định cho các hạng còn lại: “… anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”: chưa tu lên bậc trên thì không cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì trục xuất.
- Theyyasaṃvāsako
- Titthiyapakkantako
- Paṇḍako
- Tiracchānagato
- Mātughātako
- Pitughātako
- Arahantaghātako
- Lohituppādako
- Saṅghabhedako
- Bhikkhunidūsako
- Ubhatobyañjanako
Hai nhóm khác nhau thế nào? Bình giải · BMC
Vị Tỳ-khưu cho xuất gia phạm dukkaṭa.
Người ấy vẫn kể là đã xuất gia; nếu thọ cụ túc thì vẫn thành Tỳ-khưu, không phải trục xuất.
Làm lễ cũng không thành; BMC gọi là hoàn toàn không đủ tư cách (absolutely disqualified).
Đã lỡ cho tu lên bậc trên thì phải trục xuất.
Nghi thức thọ sa-di
Tạng Luật chỉ dạy những điều cốt yếu: cạo râu tóc, đắp y, đảnh lễ, ngồi chồm hổm, chắp tay, đọc Tam quy ba lần. Nghi thức đầy đủ được truyền lại trong các nước Nam tông. Phần này theo Gương Bậc Xuất Gia của HT. Hộ Pháp, là “…nghi thức thọ Sa di, Tỳ khưu phổ thông, đang được hiện hành tại Myanmar (Miến Điện) từ trước cho đến nay.”
“Nghi thức lễ thọ Sa di có 3 chi: 1- Kesacchedana: vị Tỳ khưu cạo tóc (cạo râu) cho giới tử. 2- Kāsāyacchādana: vị Đại Đức Thầy Tế độ cho giới tử mặc y cà sa. 3- Saraṇadāna: vị Đại Đức Thầy Tế độ cho giới tử thọ Tam quy.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaTừng bước của lễ thọ sa-di Tỳ-khưu Hộ Pháp
Trong khi cạo tóc, vị thầy dạy đề mục tacapañcaka: tóc, lông, móng, răng, da, quán theo chiều thuận rồi chiều nghịch: “1- Kesā: Tóc: tóc là vật ô trược, đáng nhờm.”
Sách kể giới tử Sankicca và Sīvali bảy tuổi chứng A-ra-hán ngay khi cạo tóc xong.
Y nội phủ đầu gối xuống tám lóng tay; y vai trái mặc chừa vai phải, phủ đầu gối xuống bốn lóng tay; “…trước sau và xung quanh bằng nhau, không cao, không thấp.”
Giới tử thành tâm sám hối những lỗi lầm “…do sự cố ý hay vô ý phạm đến Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng Tam bảo cùng các bậc Thầy Tổ từ trước cho đến hiện tại này.”
Thầy truyền từng chữ, từng câu; giới tử đọc lặp theo. Có hai cách đọc vần cuối: Niggahītanta (chữ ṃ có chấm dưới) và Makāranta (chữ m không chấm).
Thầy truyền, sa-di thọ từng giới: Pāṇātipātā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi… (học ở Bài 2). Rồi thầy dạy:
🧘Ba mươi hai thể của thânTiểu Tụng 3 · HT. Minh Châu dịch
“Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp, nước tiểu và não trong đầu.”
Tiểu Bộ Kinh, Tiểu Tụng 3 “Ba Mươi Hai Phần” · HT. Thích Minh Châu dịch. Năm thể đầu (tóc, lông, móng, răng, da) là đề mục tacapañcaka dạy khi cạo tóc.
Đảnh lễ năm chi. HT. Hộ Pháp: “Theo Phật giáo, cách thức đảnh lễ (lạy) có đủ 5 chi: cúi đầu, 2 cùi tay, 2 đầu gối đụng sát trên mặt phẳng.” Trong lễ, giới tử đảnh lễ thầy ba lạy trước mỗi lời thỉnh cầu.
Thành tựu sa-di · thầy tế độ · thử phán xét
Khi nào thành sa-di thật? Tỳ-khưu Hộ Pháp
Chỗ hệ trọng của lễ thọ sa-di là lúc truyền và thọ Tam quy: cả thầy lẫn giới tử phải đọc đúng từng chữ theo cách phát âm Pāli (sáu nơi phát âm ṭhāna, sáu nhân phát âm karaṇa, bốn sự cố gắng payatana, mười cách phát âm byañjanabuddhi). Sách dẫn Chú giải:
“Sāmaṇerapabbajjā pana ubhato suddhiyā vaṭṭati, no ekato suddhiyā”: “Vị Đại Đức truyền Tam quy và giới tử thọ Tam quy, cả hai đều đúng… (ubhato suddhi), thì cuộc lễ thọ Sa di thành tựu, giới tử trở thành vị Sa di thật trong Phật giáo.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất Gia, dẫn Chú giải Đại PhẩmVì vậy sách khuyên: “…giới tử có ý nguyện thọ Sa di, điều trước tiên, cần phải gần gũi thân cận với một vị thầy để học cách thọ Tam quy, cách phát âm từng chữ, từng câu…”
Thầy tế độ và đệ tử như cha với con Tạng Luật
“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ sẽ gợi lên ở người đệ tử tâm của người con và người đệ tử sẽ gợi lên ở vị thầy tế độ tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.”
Đại Phẩm, Chương Trọng Yếu · Indacanda dịchHT. Hộ Pháp ghi năm điều kiện của vị thầy tế độ theo Luật tạng: “1- Có 10 hạ trở lên. 2- Thông thuộc Tỳ khưu giới bổn và Tỳ khưu ni giới. 3- Thông thạo mọi cách hành Tăng sự lớn nhỏ. 4- Hiểu rõ những điều học từ trong bộ Mahāvagga và Cūḷavagga. 5- Có khả năng giảng dạy về danh pháp, sắc pháp.” Phận sự qua lại giữa thầy và trò học ở Bài 6.
Một thầy nhận mấy sa-di? Tạng Luật
Hai sa-di của đại đức Upananda “…đã làm điều tồi bại với nhau.”
Đức Thế Tôn quy định:
“Này các tỳ khưu, một vị không nên để cho hai sa di phục vụ; vị nào để cho phục vụ thì phạm tội dukkaṭa.”
Ngài Sāriputta đã có sa-di Rāhula nên không biết làm sao. Đức Thế Tôn nới quy định:
“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực một mình được để cho hai sa di phục vụ, hoặc để cho nhiều (sa di) phục vụ với số lượng mà vị ấy vẫn có đủ khả năng để giáo huấn và giảng dạy.”
⚖️ Thử phán xét — 8 tình huống
Đọc tình huống, chọn đáp án rồi xem giải thích.
Người con của Sa-môn
Bậc sa-di bắt đầu từ một đứa trẻ xin cha “phần thừa kế” và được trao cái quý nhất: con đường xuất gia. Từ đó Đức Thế Tôn đặt các điều kiện để việc xuất gia không làm khổ gia đình, không thành chỗ trốn nợ hay trốn pháp luật, và người xuất gia đủ sức theo đời sống không nhà.
Lễ thọ sa-di ngắn mà hệ trọng: Tam quy phải được truyền và thọ đúng. Từ lúc chữ “gacchāmi” cuối cùng dứt, vị sa-di mang trên vai mười giới, mười pháp hoại, mười pháp hành phạt, bảy mươi lăm điều học và mười bốn pháp hành, là nội dung các bài tiếp theo.
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Sa-di 1 — 52 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Đại Phẩm I, Chương Trọng Yếu, tamtangpaliviet.net.
- Tỳ-khưu Hộ Pháp (Dhammarakkhita), Gương Bậc Xuất Gia, Phần 3: Nghi thức xuất gia, theravada.vn.
- Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code II, chương Ordination, dhammatalks.org.
- HT. Thích Minh Châu (dịch), Tiểu Bộ Kinh – Tiểu Tụng, SuttaCentral.
- Bản Pāli Mahāsaṅgīti, Mahāvagga, Mahākhandhaka, SuttaCentral.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

